Indacaterol maleat

Biệt dược: Onbrez Breezhaler
Nhà sản xuất
Novartis Pharma
Thành phần
Mỗi viên: Indacaterol maleat 194mcg (tương đương 150mcg Indacaterol) hoặc Indacaterol maleat 389mcg (tương đương 300mcg Indacaterol).

Mô tả

Viên nang cứng chứa bột để hít.

* 150 microgam: Mã sản phẩm “IDL 150” màu đen in ở phía trên và biểu tượng công ty màu đen in phía dưới vạch đen, ở trên mặt viên nang trong suốt không màu.

* 300 microgam: Mã sản phẩm “IDL 300” màu xanh in ở phía trên và biểu tượng công ty màu xanh in phía dưới vạch đen, ở trên mặt viên nang trong suốt không màu.

Cơ chế tác dụng

Indacaterol là chất đồng vận beta2-adrenergic tác dụng rất kéo dài, chỉ dùng ngày một lần. Tác dụng dược lý của các chất đồng vận beta2-adrenergic, kể cả indacaterol, một phần do kích thích adenyl cyclase nội bào, enzym này xúc tác adenosin triphosphat (ATP) thành 3’,5’-adenosin monophosphat (AMP) vòng (monophosphat vòng). Hàm lượng AMP vòng tăng làm dãn cơ trơn phế quản. Các nghiên cứu in vitro cho thấy rằng, indacaterol có tác dụng đồng vận lớn gấp 24 lần đối với thụ thể-beta2 so với thụ thể-beta1 và gấp 20 lần so với thụ thể beta3. Tính chọn lọc này cũng tương tự formoterol.

Khi hít, indacaterol tác động tại chỗ ở phổi như tác nhân dãn phế quản. Indacaterol là chất đồng vận gần như hoàn toàn đối với thụ thể beta2-adrenergic ở người với nồng độ nanomol. Ở phế quản người cô lập, indacaterol có tác dụng khởi đầu nhanh và thời gian tác dụng kéo dài.

Mặc dù các thụ thể-beta2 là các thụ thể-adrenergic chiếm ưu thế ở cơ trơn phế quản và các thụ thể-beta1 chiếm ưu thế ở tim người, nhưng các thụ thể beta2-adrenergic vẫn có ở tim người, chiếm 10 đến 50% tổng các thụ thể adrenergic. Chức năng chính xác của thụ thể beta2-adrenergic ở tim chưa được biết, nhưng sự hiện diện của chúng làm tăng khả năng tác động trên tim, thậm chí cả với những chất đồng vận beta2-adrenergic chọn lọc cao.

Dược lực

Tác dụng dược lực học chính

Onbrez Breezhaler cải thiện có ý nghĩa chức năng phổi một cách hằng định (khi đo thể tích thở ra gắng sức trong 1 giây, FEV1) trong hơn 24 giờ trong một số thử nghiệm về hiệu quả và dược lực học lâm sàng.

nbrez Breezhaler bắt đầu tác dụng nhanh trong vòng 5 phút sau khi hít, làm gia tăng FEV1tương đối so với mức ban đầu là 110-160 ml, có thể so sánh với hiệu quả của 200 microgam salbutamol, một chất đồng vận-beta2 tác dụng nhanh, và nhanh hơn có ý nghĩa thống kê so với salmeterol/fluticasone 50/500 microgam. Cải thiện đỉnh trung bình của FEV1 tương đối so với mức ban đầu là 250-330 ml ở giai đoạn ổn định.
Tác dụng dãn phế quản không phụ thuộc vào thời điểm dùng thuốc (buổi sáng hoặc buổi chiều).

Onbrez Breezhaler làm giảm căng khí phổi, dẫn đến tăng khả năng hít vào trong khi tập luyện và cả lúc nghỉ ngơi, có thể so sánh với placebo.

Tác dụng dược lực học phụ

Các tác dụng phụ đặc trưng của chất đồng vận beta2-adrenergic dùng đường hít, là do kích hoạt các thụ thể beta-adrenergic toàn thân. Tác dụng phụ thường gặp nhất là run và co cứng cơ, mất ngủ, nhịp tim nhanh, giảm kali huyết và tăng đường huyết.

Tác dụng trên điện sinh lý học tim

Tác dụng của Onbrez Breezhaler trên khoảng QT đã được đánh giá trong một nghiên cứu mù đôi, có đối chứng với giả được và họat chất (moxifloxacin) sau khi dùng nhiều liều của indacaterol 150 microgam, 300 microgam hoặc 600 microgam, một lần/ngày trong 2 tuần ở 404 người tình nguyện khỏe mạnh. Phương pháp hiệu chỉnh nhịp tim Fridericia đã được áp dụng để hiệu chỉnh khoảng QT (QTcF). Sự kéo dài trung bình tối đa của khoảng QTcF là < 5 ms, và giới hạn trên của khoảng tin cậy 90% dưới 10 ms ở mọi thời điểm so với placebo. Kết quả này chỉ ra rằng không có mối liên quan giữa tiềm năng loạn nhịp tim và sự kéo dài khoảng QT đối với liều thuốc được khuyến cáo điều trị. Không có bằng chứng về mối liên hệ giữa biến thiên (delta) QTc theo nồng độ thuốc trong phạm vi các liều đã đánh giá.

Theo dõi điện tâm đồ ở bệnh nhân COPD

Kết quả một nghiên cứu pha III, mù đôi, có đối chứng giả dược trong 26 tuần trên 605 bệnh nhân COPD đã chứng minh được là không có khác biệt trên lâm sàng về sự xuất hiện các biến cố loạn nhịp tim được theo dõi trong hơn 24 giờ, giữa các bệnh nhân tiếp nhận các liều Onbrez Breezhaler được khuyến cáo và các bệnh nhân tiếp nhận placebo hoặc điều trị với tiotropium.

Tác dụng trên kali huyết và đường huyết

Những thay đổi về kali huyết và đường huyết đã được đánh giá trong một nghiên cứu pha III, mù đôi, có kiểm tra bằng placebo trong 26 tuần (xem phần “Những nghiên cứu lâm sàng”). Vào lúc 1 giờ sau khi dùng thuốc ở tuần 12, so với placebo, nhóm bệnh nhân dùng thuốc có kali huyết thay đổi trung bình từ 0,03 đến 0,05 mmol/lít và đường huyết trung bình thay đổi từ 0.25 đến 0.31 mmol/lít.

Hiệu quả lâm sàng và tính an toàn

Chương trình phát triển lâm sàng bao gồm các nghiên cứu ngẫu nhiên, có đối chứng, trong đó, gồm 1 nghiên cứu trong 12 tuần, 2 nghiên cứu trong 6 tháng (1 trong 2 nghiên cứu này được kéo dài đến 1 năm để đánh giá tính an toàn và dung nạp) và 1 nghiên cứu trong 1 năm trên các bệnh nhân được chẩn đoán COPD trên lâm sàng. Các nghiên cứu này bao gồm việc đo chức năng phổi và các kết quả trên tình trạng sức khỏe của bệnh nhân như tình trạng khó thở, tình trạng bệnh nặng lên và các vấn đề sức khỏe liên quan đến chất lượng cuộc sống.

Dược động học Indacaterol maleat

Hấp thu

Trung vị thời gian đạt tới nồng độ đỉnh trong huyết thanh của indacaterol là khoảng 15 phút sau khi hít liều duy nhất hoặc liều lặp lại. Sự tiếp xúc toàn thân với indacaterol tăng khi tăng liều (150 microgam đến 600 microgam) theo cách tỷ lệ với liều. Sinh khả dụng tuyệt đối của indacaterol sau một liều hít trung bình đạt 43%. Sự phơi nhiễm toàn thân là nhờ hấp thu qua phổi và qua ruột phối hợp.

Nồng độ indacaterol trong huyết thanh tăng khi dùng lặp lại mỗi ngày một lần. Trạng thái cân bằng động học đạt được trong vòng 12 đến 14 ngày. Tỷ lệ tích lũy trung bình của indacaterol, tức là AUC trong khoảng 24 giờ của ngày 14 so với ngày 1 là từ 2.9 đến 3.5 lần đối với các liều hít một lần/ngày 150 microgam đến 600 microgam.

Phân bố

Sau khi truyền tĩnh mạch, thể tích phân bố (Vz) của indacaterol là 2.557 lít cho thấy sự phân bố cực lớn. Sự gắn kết với protein huyết thanh và protein huyết tương người in vitro tuần tự là 94.1 đến 95.3% và 95.1 đến 96.2%.

Chuyển dạng sinh học

Sau khi uống indacaterol có gắn phóng xạ trong nghiên cứu hấp thu, phân bố, chuyển hóa, thải trừ, nhận thấy indacaterol dạng không biến đổi là thành phần chủ yếu trong huyết thanh, chiếm khoảng một phần ba toàn bộ AUC liên quan đến thuốc trong hơn 24 giờ. Dẫn chất hydroxyl hóa là chất chuyển hóa chính trong huyết thanh. Dẫn chất phenolic O-glucuronide của indacaterol và indacaterol hydroxyl hóa là các chất chuyển hóa chiếm ưu thế tiếp theo. Sản phẩm diastereomer của dẫn chất hydroxyl hóa, N-glucuronide của indacaterol, và các sản phẩm C- và N-dealkyl hóa là các chất chuyển hóa tiếp theo đã được xác định.
Các nghiên cứu in vitro cho thấy rằng UGT1A1, chất đồng dạng duy nhất của UGT, đã chuyển hóa indacaterol thành phenolic O-glucuronide. Các chất chuyển hóa oxy hóa đã được tìm thấy khi ủ với CYP1A1, CYP2D6 và CYP3A4 tái tổ hợp. CYP3A4 là isoenzym chủ yếu chịu trách nhiệm hydroxyl hóa indacaterol. Các nghiên cứu in vitro cũng cho thấy rằng indacaterol là cơ chất có ái lực thấp với bơm thải trừ P-gp.

Thải trừ

Theo các nghiên cứu lâm sàng thu thập nước tiểu, nhận thấy lượng indacaterol được bài tiết qua nước tiểu không thay đổi thường dưới 2% liều sử dụng. Độ thanh thải trung bình qua thận của indacaterol trong khoảng 0.46 và 1.20 lít/giờ. Khi so sánh với độ thanh thải trong huyết thanh của indacaterol là 23.3 lít/giờ, độ thanh thải qua thận có vai trò rất nhỏ (khoảng 2 đến 5% độ thanh thải toàn thân) trong thải trừ indacaterol toàn thân.

Trong một nghiên cứu hấp thu, phân bố, chuyển hóa, thải trừ ở người uống indacaterol, sự thải trừ qua phân chiếm ưu thế so với qua nước tiểu. Indacaterol được thải trừ qua phân chủ yếu dưới dạng thuốc gốc không bị biến đổi (54% liều dùng) và, ít hơn là các chất chuyển hoá hydroxyl hóa (23% liều dùng). Cân bằng khối lượng đạt hoàn toàn với ≥ 90% liều dùng được tìm thấy trong các chất bài tiết. Nồng độ indacaterol trong huyết thanh giảm theo nhiều pha với thời gian bán hủy trung bình lúc cuối từ 45.5 đến 126 giờ. Thời gian bán hủy hiệu quả, được tính từ sự tích lũy của indacaterol, sau khi dùng lặp lại là 40 đến 52 giờ, ứng với thời gian quan sát ở trạng thái cân bằng động học trong khoảng 12 đến 14 ngày.

Các quần thể đặc biệt

Phân tích theo quần thể về tác dụng theo tuổi, giới tính và cân nặng trên sự tiếp xúc toàn thân ở bệnh nhân bị COPD sau khi hít cho thấy, Onbrez Breezhaler có thể được sử dụng an toàn ở tất cả các nhóm tuổi, cân nặng và không phân biệt giới tính. Không có sự khác nhau nào giữa các nhóm dân tộc trong quần thể nghiên cứu. Kinh nghiệm điều trị còn hạn chế đối với quần thể người da đen.

Dược động học của indacaterol được nghiên cứu đối với hai kiểu gen UGT1A1 khác nhau – kiểu gen [(TA)6, (TA)6] có chức năng đầy đủ và kiểu gen [(TA)7, (TA)7] hoạt tính thấp (kiểu gen của hội chứng Gilbert). Nghiên cứu chứng minh rằng, trạng thái cân bằng động học AUC và Cmax của indacaterol cao hơn 1.2 lần đối với kiểu gen [(TA)7, (TA)7], kết quả này chứng tỏ rằng sự khác nhau về kiểu gen UGT1A1 ảnh hưởng không có ý nghĩa đến sự tiếp xúc toàn thân với indacaterol.

Đối với bệnh nhân suy gan nhẹ và vừa, Cmax hoặc AUC của indacaterol không thay đổi, sự gắn kết với protein cũng không khác nhau giữa người suy gan nhẹ và vừa so với người đối chứng khoẻ mạnh. Chưa tiến hành nghiên cứu ở những người suy gan nặng.

Do sự thải trừ qua nước tiểu rất thấp so với sự thải trừ toàn thân, nên không tiến hành nghiên cứu ở người bị suy thận.

Chỉ định

Onbrez Breezhaler là chất đồng vận-beta2 tác dụng kéo dài, được chỉ định dùng lâu dài, ngày một lần, để điều trị duy trì dãn phế quản đối với tình trạng nghẽn tắc đường thở cho bệnh nhân bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính (COPD).

Liều dùng thuốc Indacaterol maleat

Người lớn

Liều khuyến cáo của Onbrez Breezhaler là hít một lần/ngày một viên nang 150 microgam với máy hít Onbrez Breezhaler. Chỉ nên tăng liều theo chỉ định của thầy thuốc.

Liều hít mỗi lần một viên nang 300 microgam với máy Onbrez Breezhaler có lợi ích về lâm sàng cho một số bệnh nhân khi không thở được, đặc biệt là bệnh nhân bị COPD nặng. Liều tối đa là 300 microgam ngày một lần.

Liều cho các quần thể đặc biệt

Người già: Nồng độ huyết tương tối đa và sự phơi nhiễm thuốc toàn thân gia tăng theo tuổi nhưng không cần chỉnh liều ở những bệnh nhân lớn tuổi.

Trẻ em: Không dùng Onbrez Breezhaler cho trẻ em dưới 18 tuổi.

Suy gan:Không cần chỉnh liều ở bệnh nhân suy gan nhẹ và vừa. Không có dữ liệu dùng Onbrez Breezhaler cho bệnh nhân suy gan nặng.

Suy thận: Không cần chỉnh liều ở bệnh nhân suy thận.

Cách dùng

Viên nang Onbrez Breezhaler chỉ được sử dụng theo đường hít qua miệng và với máy hít Onbrez Breezhaler. Không được nuốt.

Cần dùng Onbrez Breezhaler mỗi ngày vào cùng thời điểm trong ngày. Nếu quên dùng một liều, thì nên dùng liều kế tiếp của ngày kế vào cùng thời điểm trước đó.

Luôn bảo quản viên nang Onbrez Breezhaler trong vỉ, và chỉ lấy ra NGAY TRƯỚC KHI DÙNG. Hướng dẫn cách dùng máy Onbrez Breezhaler được trình bày ở mục THÔNG TIN CHO BỆNH NHÂN trong bản hướng dẫn.

Cảnh báo

– Hen: Onbrez Breezhaler không được dùng chữa hen, vì chưa có kết quả nghiên cứu lâu dài của Onbrez Breezhaler đối với bệnh hen.

– Co thắt phế quản kịch phát: Cũng như điều trị bằng cách hít khác, dùng Onbrez Breezhaler có thể gây ra co thắt phế quản kịch phát, đôi khi đe dọa đến tính mạng. Nếu xảy ra co thắt phế quản kịch phát, phải ngừng ngay Onbrez Breezhaler, và tiến hành điều trị thay thế.

– Làm bệnh nặng thêm: Không nên chỉ định Onbrez Breezhaler để điều trị ngay từ đầu các cơn co thắt phế quản cấp tính, như một cách điều trị cứu hộ. Trường hợp bệnh COPD nặng thêm khi điều trị bằng Onbrez Breezhaler, nên đánh giá lại bệnh nhân và phác đồ điều trị COPD. Không nên tăng liều sử dụng hàng ngày của Onbrez Breezhaler hơn liều tối đa.

– Tác dụng toàn thân

Mặc dù không có tác dụng phụ nào đối với hệ tim mạch được ghi nhận trên lâm sàng khi dùng Onbrez Breezhaler với liều khuyến cáo như với các chất đồng vận beta2-adrenergic khác, cần dùng thận trọng indacaterol đối với bệnh nhân có bệnh tim mạch (bệnh động mạch vành, nhồi máu cơ tim cấp, loạn nhịp tim, cao huyết áp), bệnh nhân bị bệnh co giật hoặc nhiễm độc giáp trạng và ở bệnh nhân có đáp ứng bất thường với các chất đồng vận beta2-adrenergic.

Cũng như với các thuốc beta2-adrenergic dùng đường hít khác, không nên dùng Onbrez Breezhaler nhiều hơn một lần trong hoặc liều cao hơn liều khuyến cáo.

Không nên dùng phối hợp Onbrez Breezhaler với các chất đồng vận beta2-adrenergic tác dụng kéo dài khác hoặc các thuốc có chứa chất đồng vận beta2-adrenergic tác dụng kéo dài.

– Tác dụng phụ trên hệ tim mạch

Cũng giống như các chất đồng vận beta2-adrenergic khác, indacaterol có thể gây ra tác dụng phụ trên tim mạch có ý nghĩa lâm sàng ở một số bệnh nhân, dựa trên số đo và/hoặc dựa vào các triệu chứng tăng nhịp tim, tăng huyết áp. Nếu xảy ra tác dụng phụ, cần ngừng thuốc. Ngoài ra, các chất đồng vận beta-adrenergic có thể làm thay đổi điện tâm đồ, như làm sóng T hạ thấp và giảm đoạn ST, mặc dù ý nghĩa lâm sàng của những thay đổi này còn chưa biết rõ.

Không thấy tác dụng có liên quan đến lâm sàng trên sự kéo dài khoảng QTc trong các nghiên cứu lâm sàng Onbrez Breezhaler với liều điều trị được khuyến cáo (xem phần “Dược lý lâm sàng”).

– Giảm kali huyết: Các chất đồng vận beta2-adrenergic có thể gây giảm kali huyết có ý nghĩa ở một số bệnh nhân, dẫn đến biến chứng trên tim mạch. Sự giảm kali huyết thanh thường thoáng qua, không cần phải bổ sung kali. Ở bệnh nhân bị COPD nặng, giảm kali huyết có thể gia tăng do thiếu oxy và do điều trị phối hợp (xem phần “Tương tác thuốc”), điều này có thể làm tăng tình trạng loạn nhịp tim.
– Tăng đường huyết

Hít liều cao chất đồng vận beta2-adrenergic có thể làm tăng đường huyết. khi bắt đầu điều trị bằng Onbrez Breezhaler, nên theo dõi sát đường huyết đối với bệnh nhân đái tháo đường.

Trong các nghiên cứu lâm sàng, nhóm bệnh nhân dùng Onbrez Breezhaler với liều khuyến cáo có tỉ lệ thay đổi đường huyết cao hơn 1-2% so với placebo. Chưa có nghiên cứu sử dụng Onbrez Breezhaler cho bệnh nhân đái tháo đường chưa được kiểm soát.

– Tác động của thuốc khi lái xe và vận hành máy móc: Không có.

Quá Liều

Với liều thuốc một lần gấp 10 lần liều tối đa khuyến cáo trong điều trị ở bệnh nhân bị COPD, nhịp tim tăng vừa, tăng huyết áp tâm thu và khoảng QTc.

Liều cao indacaterol gia tăng quá mức tác dụng đặc trưng của các chất kích thích beta2-adrenergic như nhịp tim nhanh, run rẩy, đánh trống ngực, nhức đầu, buồn nôn, nôn, lơ mơ, loạn nhịp thất, nhiễm acid chuyển hóa, hạ kali huyết và tăng đường huyết.

Khi quá liều nên điều trị triệu chứng và chăm sóc nâng đỡ. Đối với trường hợp nặng, cần cho bệnh nhân nhập viện. Có thể dùng các thuốc chẹn beta chọn lọc trên tim, nhưng thầy thuốc phải theo dõi sát và hết sức thận trọng, vì các thuốc chẹn beta-adrenergic có thể gây co thắt phế quản.

Chống chỉ định

Không có.

Lúc có thai và lúc nuôi con bú

* Phụ nữ có thai: Hiện chưa có các kết quả lâm sàng về phụ nữ có thai bị bệnh COPD tiếp xúc với thuốc. Các nghiên cứu trên độc tính sinh sản ở động vật cho thấy, tỷ lệ biến dị bộ xương tăng ở thỏ (xem phần “Dữ liệu an toàn tiền lâm sàng”). Nguy cơ đối với người còn chưa được biết. Vì chưa có nghiên cứu đầy đủ và có kiểm soát thích đáng ở phụ nữ có thai, nên chỉ dùng indacaterol trong thai kỳ nếu đánh giá thấy lợi ích cao hơn nguy cơ cho thai.

* Chuyển dạ và sinh con: Giống như các chất đồng vận beta2-adrenergic khác, Onbrez Breezhaler có thể ức chế sự chuyển dạ do thuốc làm dãn cơ trơn tử cung.

* Phụ nữ cho con bú: Chưa biết indacaterol được bài tiết qua sữa mẹ hay không, nhưng thuốc được tìm thấy trong sữa của chuột cống trắng cho con bú. Vì nhiều loại thuốc được bài tiết qua sữa mẹ, cũng như các beta2-adrenergic dùng đường hít khác, chỉ nên dùng Onbrez Breezhaler cho phụ nữ nuôi con bú khi nhận thấy lợi ích cho mẹ cao hơn nguy cơ cho con.

* Sự sinh sản: Các nghiên cứu về khả năng sinh sản hoặc từ các nghiên cứu trên động vật cho thấy thuốc không gây ra vấn đề gì liên quan đến khả năng sinh sản ở cả nam và nữ.

Tương tác thuốc Indacaterol maleat

Các thuốc gây kéo dài khoảng QTc

Onbrez Breezhaler cũng như các chất đồng vận beta2-adrenergic khác cần dùng thận trọng cho bệnh nhân đang điều trị với các chất ức chế monoamin oxidase, thuốc chống trầm cảm ba vòng, hoặc các thuốc gây kéo dài khoảng QT, vì bất kỳ tác dụng nào của các thuốc này trên khoảng QT đều có thể gia tăng. Các thuốc gây kéo dài khoảng QT có thể làm tăng nguy cơ loạn nhịp thất (xem phần “Thận trọng lúc dùng”).
Các thuốc kích thích giao cảm

Dùng đồng thời các thuốc kích thích giao cảm khác (dùng đơn độc hoặc phối hợp) có thể làm tăng tác dụng phụ của Onbrez Breezhaler (xem phần “Chú ý đề phòng”).
Giảm kali huyết

Dùng đồng thời với các dẫn chất methylxanthin, các steroid, hoặc thuốc lợi tiểu không giữ kali, có thể làm tăng tác dụng giảm kali huyết của các chất đồng vận beta2-adrenergic (xem phần “Chú ý đề phòng”).
Các thuốc chẹn beta-adrenergic

Các thuốc chẹn beta-adrenergic có thể làm giảm hoặc đối kháng hiệu quả của các chất đồng vận beta2-adrenergic. Do đó, không nên dùng Onbrez Breezhaler cùng với các thuốc chẹn beta-adrenergic (kể cả thuốc nhỏ mắt) trừ khi có lý do bắt buộc phải dùng. Nếu thật cần thiết, nên chọn thuốc chẹn beta-adrenergic chọn lọc trên tim, song vẫn nên thận trọng.

Tương tác thuốc do chuyển hóa và vận chuyển

Sự ức chế CYP3A4 và P-gp, những chất góp phần quan trọng vào sự thanh thải indacaterol, không ảnh hưởng đến tính an toàn của Onbrez Breezhaler với liều điều trị. Các nghiên cứu tương tác thuốc được tiến hành với các chất ức chế mạnh và đặc hiệu CYP3A4 và P-gp (như ketoconazol, erythromycin và verapamil). Verapamil là chất ức chế điển hình của P-gp làm tăng AUC lên 1.4 đến 2 lần và tăng Cmax lên 1.5 lần. Dùng đồng thời erythromycin với Onbrez Breezhaler làm tăng AUC 1.4 đến 1.6 lần và Cmax lên 1.2 lần. Ketoconazol ức chế mạnh hoạt tính của cả P-gp và CYP3A4 làm tăng AUC 2 lần và tăng Cmax 1.4 lần. Dùng cùng lúc, kết quả cho thấy rằng, độ thanh thải toàn thân bị ảnh hưởng do sự điều hoà của cả hai hoạt tính P-gp và CYP3A4, và AUC tăng lên 2 lần do ketoconazol, một chất ức chế mạnh cả hai hoạt tính, phản ánh ảnh hưởng ức chế tối đa khi phối hợp. Tầm quan trọng của sự phơi nhiễm tăng do tương tác thuốc không làm tăng mối lo về tính an toàn, theo các nghiên cứu về tính an toàn trong thử nghiệm lâm sàng dùng Onbrez Breezhaler tới một năm với liều thuốc gấp 2 đến 4 lần liều khuyến cáo trong điều trị.

Onbrez Breezhaler không gây tương tác thuốc khi phối hợp thuốc. Những nghiên cứu in vitro chỉ rằng, indacaterol gây ra các tương tác chuyển hóa không đáng kể với các thuốc với liều phơi nhiễm toàn thân trong thực hành lâm sàng.

Tương kỵ

Chưa ghi nhận.

Tác dụng ngoại ý thuốc Indacaterol maleat

Tóm tắt về vấn đề an toàn

Kinh nghiệm cho cho thấy Onbrez Breezhaler vẫn an toàn khi dùng liều từ 2 đến 4 lần liều khuyến cáo trong điều trị, trên một năm.

Các tác dụng phụ thường gặp nhất với liều khuyến cáo là viêm mũi họng, ho, nhiễm trùng đường hô hấp trên, và co thắt cơ. Các tác dụng phụ thường nhẹ hoặc vừa và giảm khi tiếp tục điều trị.

Với liều sử dụng khuyến cáo, đối với bệnh nhân COPD, phản ứng phụ của Onbrez Breezhaler là do kích thích beta2-adrenergic trên toàn thân, nhưng không có ý nghĩa lâm sàng. Thay đổi nhịp tim trung bình dưới 1 lần/phút, ít gặp tăng nhịp tim và có tỷ lệ tương tự như dùng placebo. Không thấy kéo dài đáng kể khoảng QTcF so với placebo. Kéo dài khoảng QTcF [> 450 ms (nam) và > 470 ms (nữ)], và hạ kali huyết tương tự placebo. Giá trị trung bình của các biến đổi tối đa về đường huyết tương tự nhau giữa Onbrez Breezhaler và placebo.

Mô tả quần thể

Chương trình thử nghiệm lâm sàng pha III của Onbrez Breezhaler gồm 8 nghiên cứu chính với 5430 bệnh nhân được chẩn đoán COPD mức độ vừa và nặng. Số liệu an toàn từ 5 trong các nghiên cứu này với thời gian điều trị từ 12 tuần trở lên gồm 2484 bệnh nhân dùng indacaterol đến 600 microgam ngày một lần, trong số này, 957 dùng liều 150 microgam một lần/ngày và 853 dùng 300 microgam ngày một lần. Khoảng 41% bệnh nhân bị COPD nặng. Tuổi trung bình của bệnh nhân là 63.47% bệnh nhân có tuổi từ 65 trở lên, và đa số (86%) là người da trắng (Caucasian).

Tác dụng phụ từ các thử nghiệm lâm sàng

Các tác dụng phụ ghi trong bảng 1 lấy từ cơ sở dữ liệu nghiên cứu tính an toàn của indacaterol 150 microgam một lần/ngày đối với bệnh COPD, được thống kê theo phân loại hệ cơ quan MedDRA và xếp theo thứ tự theo tần số giảm dần. Trong mỗi phân loại hệ cơ quan, tác dụng phụ được ghi theo tần số lớn hơn xếp trước. Ngoài ra, cách phân loại tần số đối với mỗi tác dụng phụ tương ứng theo qui ước sau (CIOMS III): Rất thường gặp (≥ 1/10); thường gặp (≥ 1/100, < 1/10); ít gặp (≥ 1/1000, < 1/100); hiếm gặp (≥ 1/10 000, < 1/1000); rất hiếm gặp (< 1/10 000), kể cả các báo cáo riêng rẽ.

Các tác dụng phụ được chọn lọc dựa vào cơ sở dữ liệu nghiên cứu an toàn chung bệnh COPD; tần số các tác dụng phụ riêng dựa vào cơ sở dữ liệu nghiên cứu bệnh COPD trong 6 tháng; tần số với liều dùng 150 microgam hoặc 300 microgam có tần số cao hơn; các thuật ngữ có đánh dấu * là thuật ngữ chuẩn theo MedDRA Query.

Với liều cao hơn, ví dụ 600 microgam ngày một lần, tính an toàn chung của Onbrez Breezhaler cũng tương tự như các liều đã khuyến cáo. Các tác dụng phụ có thêm là run và thiếu máu. Viêm mũi họng và đau cơ xảy ra nhiều hơn so với liều khuyến cáo.

Các tác dụng phụ chọn lọc

Trong các nghiên cứu lâm sàng pha III, nhân viên chăm sóc sức khoẻ ghi nhận trung bình có 17-18% bệnh nhân bị húng hắng ho, thường xảy ra trong vòng 15 giây sau khi hít và thường kéo dài khoảng 5 giây. Ho sau khi hít thường được dung nạp tốt và không bệnh nhân nào phải ngừng thuốc trong các nghiên cứu với liều dùng khuyến cáo (ho là triệu chứng của bệnh COPD và chỉ 6.6% bệnh nhân ho do tác dụng phụ). Không có bằng chứng ho xảy ra sau khi hít là do co thắt phế quản, bội nhiễm, bệnh nặng thêm hoặc thuốc mất hiệu quả.

Bảo quản

Không bảo quản trên 30°C. Bảo quản trong bao bì gốc để tránh ẩm .

Hiện chúng tôi chưa cập nhật được thông tin giá bán thuốc, Nếu bạn đã từng mua và sử dụng xin hãy để lại thông tin trong phần “Bình luận” bên dưới giúp mọi người có thêm tham khảo.

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai.