Daptomycin

CUBICIN
AstraZeneca
Bột pha dung dịch tiêm truyền tĩnh mạch 500mg: lọ 10 mL, hộp 1 lọ
Thành phần
Cho 1 lọ
Daptomycin 500mg

Dược lý lâm sàng

Vi sinh học:

Daptomycin là thuốc kháng sinh thuộc nhóm mới, lipopeptide vòng. Daptomycin là sản phẩm tự nhiên với ứng dụng lâm sàng trong điều trị nhiễm khuẩn gây ra bởi vi khuẩn gram dương. Daptomycin có hoạt tính chống lại các vi khuẩn gram dương đề kháng với các kháng sinh khác kể cả các chủng đề kháng với methicillin, vancomycin và linezolid.

Nhóm dược trị liệu:

Thuốc kháng khuẩn sử dụng đường toàn thân, các thuốc kháng khuẩn khác, mã ATC J01XX09.

Cơ chế tác động:

Cơ chế tác động của daptomycin khác biệt với cơ chế của các thuốc kháng sinh khác. Daptomycin gắn kết với màng tế bào vi khuẩn gây ra sự khử cực nhanh điện thế màng tế bào ở trạng thái tĩnh hay tăng trưởng. Sự mất điện thế màng làm ức chế sự tổng hợp protein, ADN và ARN với kết quả làm chết tế bào vi khuẩn với sự phân hủy tế bào không đáng kể.

Cơ chế đề kháng:

Hiện chưa có cơ chế đề kháng với daptomycin nào được xác định và cũng chưa biết yếu tố chuyển dạng nào gây ra sự đề kháng với daptomycin.

Cũng như các kháng sinh khác, khi sử dụng thuốc ở bệnh nhân khó điều trị nhiễm khuẩn và/hoặc nhiễm khuẩn kéo dài, đã ghi nhận sự giảm đáng kể tính nhạy cảm của cả Staphylococcus aureus và các Enterococcus sau khi điều trị với Cubicin.

Mối tương quan Dược động học/ Dược lực học:

In vitro, daptomycin có tác động diệt khuẩn nhanh và phụ thuộc nồng độ đối với các vi khuẩn gram dương nhạy cảm với thuốc.

Dược động học

Đặc điểm chung:

Dược động học của daptomycin nói chung tuyến tính và không phụ thuộc thời gian khi sử dụng liều 4-12mg/kg, 1 lần/ngày trong 14 ngày. Nồng độ thuốc ổn định đạt được sau liều thứ ba.

Phân phối:

Ở người tình nguyện khỏe mạnh, thể tích phân phối daptomycin trong tình trạng ổn định xấp xỉ 0,1 l/kg, phù hợp với sự phân phối chủ yếu trong khoang ngoại bào. Daptomycin phân phối ưu thế vào các mô có nhiều mạch máu và thuốc đi qua hàng rào máu não và hàng rào nhau thai ở mức độ ít hơn sau khi sử dụng đơn liều và đa liều.

Daptomycin gắn kết thuận nghịch và không phụ thuộc vào nồng độ với protein huyết tương (trung bình 90-93%) ở người tình nguyện khỏe mạnh và với tỷ lệ thấp hơn (83,5-87,6) ở bệnh nhân suy thận nặng (thanh thải creatinin < 30 ml/phút hoặc đang thẩm phân).

Chuyển hóa:

Các nghiên cứu in vitro cho thấy ở người daptomycin không hoặc chuyển hóa rất ít qua gan và CYP450 rất ít ảnh hưởng đến sự chuyển hóa của daptomycin. Các nghiên cứu in vitro đã xác nhận rằng daptomycin không ức chế hoặc cảm ứng các đồng dạng CYP (1A2, 2A6, 2C9, 2C19, 2D6, 2E1, 3A4) có ý nghĩa lâm sàng ở người.

Không có chất chuyển hóa nào được tìm thấy trong huyết tương ở người sử dụng liều daptomycin 6mg/kg, điều này chứng tỏ thuốc không hoặc rất ít bị chuyển hóa trong máu. Hơn nữa, không có chất chuyển hóa nào được tìm thấy trong huyết tương ở người khi sử dụng thuốc đánh dấu bằng đồng vị phóng xạ dựa trên tổng nồng độ hoạt tính vi sinh và hoạt tính đồng vị phóng xạ. Hai trong bốn chất chuyển hóa được tìm thấy trong nước tiểu là chất chuyển hóa oxy hóa pha I hiện diện với nồng độ thấp.

Đào thải:

Daptomycin được đào thải chủ yếu bởi thận. Không có hoặc rất ít daptomycin bài tiết chủ động qua ống thận. Độ thanh thải của daptomycin trong huyết tương vào khoảng 7-9 mL/giờ/kg và độ thanh thải ở thận là 4-7 mL/giờ/kg.

Trong một nghiên cứu về cân bằng khối lượng sử dụng đồng vị phóng xạ, 78% liều dùng hiện diện trong nước tiểu dựa trên tổng hoạt tính phóng xạ, trong khi đó lượng daptomycin không đổi tìm thấy trong nước tiểu vào khoảng 52% liều dùng. Khoảng 5% lượng đồng vị phóng xạ được thải trừ qua phân.

Dân số đặc biệt:

– Người cao tuổi: không cần điều chỉnh liều nếu chỉ đơn thuần dựa trên độ tuổi. Tuy nhiên, cần đánh giá chức năng thận và nên điều chỉnh liều khi có bằng chứng suy thận nặng.

– Trẻ em và trẻ vị thành niên (< 18 tuổi): dược động học của daptomycin chưa được thiết lập.

– Béo phì: so với người không béo phì, nồng độ và thời gian tiếp xúc của daptomycin, được đánh giá bởi diện tích dưới đường cong biểu diễn nồng độ theo thời gian (AUC), tăng khoảng 28% ở bệnh nhân béo phì trung bình (chỉ số khối cơ thể BMI 25-40 kg/m2) và tăng 42% ở bệnh nhân béo phì nặng (BMI > 40 kg/m2). Tuy nhiên, không cần điều chỉnh liều nếu chỉ dựa trên yếu tố béo phì đơn thuần.

– Giới tính: không có sự khác biệt có ý nghĩa lâm sàng liên quan đến giới tính về dược động học của daptomycin.

– Suy thận: sau khi sử dụng một liều duy nhất daptomycin 4mg/kg hoặc 6mg/kg cho các bệnh nhân có mức độ suy thận khác nhau, độ thanh thải daptomycin giảm và AUC tăng. Ở bệnh nhân suy thận nặng (thanh thải creatinin < 30 mL/phút) và ở giai đoạn cuối của bệnh lý thận, AUC và thời gian bán thải tăng 2-3 lần so với ở người khỏe mạnh.

– Suy gan: dược động học của daptomycin không thay đổi ở bệnh nhân suy gan nhẹ đến trung bình (Child-Pugh B theo phân loại xơ gan) sau khi sử dụng một liều duy nhất 4mg/kg. Dược động học của daptomycin ở bệnh nhân suy gan nặng (Child-Pugh C) chưa được đánh giá.

An toàn tiền lâm sàng

Ở động vật, sử dụng daptomycin liên quan đến các tác động trên cơ xương nhưng không ảnh hưởng đến cơ trơn hoặc cơ tim. Các tác động trên cơ xương là các thay đổi thoái hóa hoặc tái sinh và tăng CPK. Không ghi nhận xơ hóa hoặc tiêu cơ vân. Tất cả các tác động trên cơ, kể cả các thay đổi về mặt vi thể, đều hồi phục hoàn toàn trong vòng 30 ngày sau khi ngưng thuốc.

Ở động vật trưởng thành, tác động trên thần kinh ngoại biên (thoái hóa sợi trục và thường kết hợp với thay đổi chức năng) ghi nhận được ở liều cao hơn liều gây ra các bệnh lý cơ xương. Các tác động vi thể và chức năng thì hồi phục hoàn toàn trong vòng 6 tháng sau khi sử dụng thuốc.

Các nghiên cứu dài hạn về tác động sinh ung ở loài gậm nhấm chưa được thực hiện. Daptomycin không gây đột biến hoặc đứt đoạn nhiễm sắc thể qua các thử nghiệm về độc tính gen in vivo và in vitro.

Thử nghiệm về độc tính trên khả năng sinh sản không ghi nhận tác động trên khả năng sinh sản, sự phát triển của phôi thai và của trẻ sau khi sinh. Tuy nhiên, daptomycin có thể đi qua hàng rào nhau thai ở chuột. Sự bài tiết daptomycin qua sữa động vật chưa được nghiên cứu.

Chỉ định

Cubicin (daptomycin dùng tiêm truyền) được chỉ định trong các nhiễm khuẩn sau:

– Nhiễm khuẩn da và cấu trúc da có biến chứng (cSSSI) do các vi khuẩn gram dương nhạy cảm với thuốc sau: Staphylococcus aureus (kể cả các Staphylococcus aureus đề kháng với methicillin),Streptococcus pyogenes, Streptococcus agalactiae, Streptococcus dysgalactiae dưới loài equisimilis, vàEnterococcus faecalis (chỉ các nhóm nhạy cảm với vancomycin). Có thể có chỉ định phối hợp kháng sinh trên lâm sàng trong trường hợp xác định hoặc nghi ngờ nhiễm đồng thời vi khuẩn gram âm hoặc vi khuẩn kỵ khí.

– Nhiễm Staphylococcus aureus huyết (vi khuẩn huyết), kể cả viêm nội tâm mạc nhiễm khuẩn tim phải gây ra bởi các vi khuẩn nhạy cảm và đề kháng với methicillin. Có thể có chỉ định phối hợp kháng sinh trên lâm sàng trong trường hợp xác định hoặc nghi ngờ nhiễm đồng thời vi khuẩn gram âm hoặc vi khuẩn kỵ khí.

Hiệu quả của Cubicin đối với bệnh nhân viêm nội tâm mạc nhiễm khuẩn tim trái do Staphylococcus aureus chưa được xác lập. Dữ liệu về bệnh nhân viêm nội tâm mạc nhiễm khuẩn tim trái trong thử nghiệm lâm sàng sử dụng Cubicin trên bệnh nhân nhiễm khuẩn huyết do Staphylococcus aureus còn giới hạn; kết quả thử nghiệm lâm sàng ở những bệnh nhân này rất hiếm. Chưa có nghiên cứu sử dụng Cubicin cho bệnh nhân viêm nội tâm mạc có van tim nhân tạo hoặc viêm màng não.

Bệnh nhân nhiễm Staphylococcus aureus kéo dài hoặc tái phát hoặc kém đáp ứng lâm sàng nên được cấy máu lại nhiều lần. Nếu cấy máu dương tính với Staphylococcus aureus, nên thực hiện kiểm tra độ nhạy cảm bằng nồng độ ức chế tối thiểu (MIC) của vi khuẩn phân lập sử dụng phương pháp chuẩn hóa, cũng như đánh giá lại chẩn đoán để loại trừ các ổ nhiễm khuẩn khác chưa xác định.

Không chỉ định sử dụng Cubicin trong điều trị viêm phổi.

Nên tiến hành lấy các mẫu phẩm thích hợp gửi xét nghiệm vi sinh học nhằm phân lập và xác định vi khuẩn gây bệnh cũng như xác định tính nhạy cảm của chúng với daptomycin.

Có thể khởi đầu điều trị theo kinh nghiệm trong khi chờ kết quả xét nghiệm. Nếu cần nên điều chỉnh liệu pháp kháng sinh dựa trên kết quả xét nghiệm.

Để giảm thiểu sự phát triển vi khuẩn kháng thuốc và duy trì hiệu quả của Cubicin cũng như các thuốc kháng sinh khác, chỉ sử dụng Cubicin để điều trị hoặc dự phòng các nhiễm khuẩn đã xác định hoặc nhiều khả năng gây ra bởi các vi khuẩn nhạy cảm với thuốc. Sau khi xác định vi khuẩn gây bệnh và sự nhạy cảm của vi khuẩn nên cân nhắc chọn lựa hoặc điều chỉnh liệu pháp kháng sinh. Trong trường hợp không có được các thông tin này, các thông tin về dịch tể học và sự nhạy cảm của vi khuẩn tại địa phương có thể hữu ích cho việc lựa chọn liệu pháp điều trị theo kinh nghiệm.

Chống chỉ định

Quá mẫn với các thành phần của thuốc.

Chú ý đề phòng và thận trọng lúc dùng

Lưu ý chung

Sử dụng các thuốc kháng sinh có thể thúc đẩy sự tăng sinh các vi khuẩn không nhạy cảm. Nếu bội nhiễm xảy ra trong quá trình điều trị, cần có biện pháp xử trí thích hợp.

Viêm đại tràng và viêm đại tràng giả mạc liên quan đến thuốc kháng sinh đã được ghi nhận khi sử dụng hầu hết các thuốc kháng khuẩn và có thể ở mức độ từ nhẹ đến đe dọa tính mạng. Do đó, điều quan trọng là phải xem xét đến chẩn đoán này khi bệnh nhân bị tiêu chảy trong hoặc ngay sau khi bắt đầu điều trị.

Để góp phần giúp điều trị thành công, nên tiến hành ngay mà không trì hoãn các can thiệp ngoại khoa cần thiết cho bệnh nhân bị nhiễm trùng sâu (như cắt lọc, tháo các bộ phận giả, phẫu thuật thay van).

Các thử nghiệm lâm sàng đã chứng tỏ rằng Cubicin không hiệu quả trong điều trị viêm phổi do gắn kết với chất diện hoạt phổi làm cho thuốc bị mất hoạt tính (xem thêm”Chỉ định”).

Creatine Phosphokinase và Bệnh lý cơ: tăng nồng độ creatine phosphokinase (CPK) huyết tương kết hợp với đau cơ, yếu cơ và/hoặc tiêu cơ vân trong quá trình điều trị với Cubicin đã được báo cáo.

Khuyến cáo nên

– Thử CPK huyết tương trước khi bắt đầu trị liệu và định kỳ (tối thiểu một lần mỗi tuần) trong quá trình điều trị cho tất cả bệnh nhân, bệnh nhân tăng CPK hoặc đau, căng, yếu cơ không rõ nguyên nhân cần được theo dõi thường xuyên hơn (> 1 lần/tuần).

– Thử CPK thường xuyên hơn (> 1 lần/tuần) ở bệnh nhân có nguy cơ cao phát triển bệnh lý cơ. Các bệnh nhân này bao gồm bệnh nhân suy thận nặng (độ thanh thải creatinin < 30 ml/phút) và bệnh nhân đang sử dụng các thuốc có liên quan đến bệnh lý cơ (như các thuốc ức chế HMG-CoA reductase).

– Bệnh nhân nên được khám thường xuyên trong quá trình điều trị nhằm phát hiện bất cứ dấu hiệu hay triệu chứng nào của bệnh lý cơ.

– Nên ngưng thuốc Cubicin khi bệnh nhân có các triệu chứng cơ không giải thích được đi kèm với tăng CPK > 1000 U/l (khoảng gấp 5 lần giới hạn trên của giá trị bình thường – ULN) hoặc ở bệnh nhân có CPK tăng đáng kể > 2000 U/L (≥ 10 x ULN) mà không có triệu chứng.

Bệnh lý thần kinh: bệnh nhân nên được theo dõi các dấu hiệu hoặc triệu chứng của bệnh lý thần kinh trong quá trình điều trị với Cubicin.

Suy thận: nên theo dõi chức năng thận và nồng độ CPK thường xuyên hơn ở bệnh nhân suy thận.

Lúc có thai và lúc nuôi con bú

Các nghiên cứu về ảnh hưởng lên khả năng sinh sản và quái thai thực hiện trên chuột và thỏ không có bằng chứng cho thấy daptomycin gây tác hại lên khả năng sinh sản, quá trình mang thai và sự phát triển của bào thai. Vì đáp ứng đối với thuốc khi sử dụng ở người không phải luôn luôn có thể dự đoán qua kết quả nghiên cứu về sinh sản trên động vật, chỉ sử dụng Cubicin trong quá trình mang thai khi lợi ích dự kiến vượt trội các nguy cơ có thể xảy ra. Hiện chưa rõ daptomycin có tiết qua sữa mẹ hay không. Cần thận trọng khi sử dụng Cubicin cho phụ nữ cho con bú.

Tương tác thuốc

Daptomycin ít hoặc không chuyển hóa qua trung gian Cytochrome P450 (CYP450). Do đó, Cubicin không có tương tác với các thuốc liên quan đến CYP450.

Kinh nghiệm sử dụng đồng thời Cubicin với các thuốc ức chế HMG-CoA reductase trên bệnh nhân còn giới hạn; do vậy, cần cân nhắc tạm thời ngưng sử dụng các thuốc ức chế HMG-CoA reductase ở bệnh nhân đang sử dụng Cubicin.

Cubicin đã được nghiên cứu trên người về tương tác thuốc với aztreonam, tobramycin, warfarin, simvastatin và probenecid.

Cubicin không ảnh hưởng đến sinh khả dụng của aztreonam, warfarin và probenecid. Hiện chưa rõ tương tác giữa Cubicin với tobramycin khi sử dụng một liều lâm sàng Cubicin. Nên thận trọng khi sử dụng đồng thời Cubicin và tobramycin. Kinh nghiệm sử dụng đồng thời Cubicin và simvastatin (thuốc ức chế HMG-CoA reductase) còn giới hạn; do đó, cần cân nhắc tạm thời ngưng sử dụng các thuốc ức chế HMG-CoA reductase ở bệnh nhân đang sử dụng Cubicin.

Tương tác thuốc và các xét nghiệm

Trong các xét nghiệm thời gian prothrombin (PT)/ Tỷ số chuẩn hóa quốc tế (INR), các trường hợp tương tác giữa daptomycin và một số thuốc thử dẫn đến kéo dài PT và tăng INR đã được báo cáo. Có thể giảm thiểu khả năng dẫn đến kết quả sai lệch bằng cách lấy mẫu máu để thử PT hoặc INR gần thời điểm nồng độ daptomycin huyết tương ở mức đáy (trough).

Tác dụng ngoại ý

Các phản ứng ngoại ý sau đã được báo cáo trong quá trình điều trị và theo dõi qua các thử nghiệm lâm sàng của Cubicin:

  • Rối loạn hệ máu và bạch huyết: thiếu máu, tăng bạch cầu ái toan, giảm tiểu cầu.
  • Rối loạn tim: loạn nhịp trên thất.
  • Rối loạn tai và mê đạo: chóng mặt.
  • Rối loạn tiêu hóa: đau bụng, táo bón, tiêu chảy, khó tiêu, buồn nôn, nôn.
  • Rối loạn tổng quát và tại nơi tiêm truyền: mệt mỏi, phản ứng tại nơi truyền, sốt, rét run, suy nhược.
  • Rối loạn gan mật: vàng da.
  • Nhiễm khuẩn: nhiễm nấm, nhiễm trùng niệu.

Xét nghiệm:

  • Mất cân bằng điện giải, tăng CPK, tăng creatinin, bất thường xét nghiệm chức năng gan (tăng AST, ALT và phosphatase kiềm), tăng lactic dehydrogenase (LDH).
  • Rối loạn chuyển hóa và dinh dưỡng: giảm cảm giác ngon miệng, tăng đường huyết.
  • Rối loạn cơ xương, mô liên kết và xương: đau khớp, đau cơ, yếu cơ.
  • Rối loạn hệ thần kinh: chóng mặt, nhức đầu, dị cảm, rối loạn vị giác.
  • Rối loạn tâm thần: lo âu, mất ngủ.
  • Rối loạn thận và tiết niệu: suy thận.
  • Rối loạn hệ sinh sản và tuyến vú: viêm âm đạo.
  • Rối loạn da và mô dưới da: phát ban, ngứa, mề đay.
  • Rối loạn mạch máu: bốc hỏa, tăng huyết áp, hạ huyết áp

Các biến cố ngoại ý dưới đây (chưa được nêu ở phần trên) có thể liên quan đến thuốc đã được ghi nhận ở nhóm điều trị với Cubicin:

  • Rối loạn hệ máu/ bạch huyết: tăng bạch cầu, giảm tiểu cầu, bệnh hạch bạch huyết, tăng tiểu cầu
  • Rối loạn toàn thân: bồn chồn.
  • Rối loạn tim: rung nhĩ, cuồng động tâm nhĩ, ngưng tim.
  • Rối loạn da: chàm.
  • Rối loạn hệ tiêu hóa: trướng bụng, đầy hơi, viêm miệng.
  • Rối loạn tai và mê đạo: ù tai.
  • Rối loạn mắt: kích ứng mắt, nhìn mờ.
  • Rối loạn tiêu hóa: khô miệng, khó chịu vùng thượng vị, đau nướu răng, giảm cảm giác vùng miệng.

Xét nghiệm:

  • Tăng phospho máu, tăng alanine aminotransferase, tăng aspartate aminotransferase, kéo dài thời gian prothrombin.
  • Rối loạn hệ cơ xương: chuột rút, viêm tủy xương.
  • Rối loạn hệ thần kinh: thay đổi trạng thái tinh thần, loạn vận động.
  • Rối loạn tâm thần: ảo giác không đặc hiệu.
  • Rối loạn thận và tiết niệu: protein niệu.

Sau khi đưa thuốc ra thị trường:

Các phản ứng ngoại ý ghi nhận sau khi thuốc đưa ra thị trường chưa được nêu ở phần trên gồm:

  • Rối loạn hệ miễn dịch.
  • Các phản ứng quá mẫn kể cả phản ứng phản vệ, tăng bạch cầu ái toan ở phổi.
  • Rối loạn cơ xương, mô liên kết và xương.
  • Tiêu cơ vân.

Liều lượng và cách dùng

Nhiễm khuẩn da và cấu trúc da có biến chứng: liều khuyến cáo cho người lớn là 4mg/kg, sử dụng một lần mỗi 24 giờ trong 7 đến 14 ngày hoặc đến khi hết nhiễm khuẩn.

Nhiễm Staphylococcus aureus huyết, kể cả viêm nội tâm mạc tim phải: liều khuyến cáo cho người lớn là 6mg/kg, sử dụng một lần mỗi 24 giờ trong 2-6 tuần tùy thuộc chẩn đoán của bác sĩ điều trị.

Suy thận:

Daptomycin thải trừ chủ yếu qua thận.

– Bệnh nhân có độ thanh thải creatinin ≥ 30 mL/phút: không cần điều chỉnh liều. Cần theo dõi chặt chẽ đáp ứng với trị liệu và chức năng thận cho tất cả bệnh nhân suy thận.

– Bệnh nhân có độ thanh thải creatinin < 30 mL/phút: cần tăng khoảng cách giữa các liều lên 48 giờ cho mỗi liều đơn. Cần theo dõi chặt chẽ đáp ứng lâm sàng với trị liệu và chức năng thận cho các bệnh nhân này.

Điều chỉnh liều và khuyến cáo tương tự cho bệnh nhân đang thẩm phân máu hoặc thẩm phân phúc mạc liên tục ngoại trú (CAPD). Khi có thể, nên sử dụng Cubicin sau khi đã hoàn tất thẩm phân trong ngày.

Suy gan: không cần chỉnh liều khi sử dụng Cubicin cho bệnh nhân suy gan nhẹ hoặc vừa (Child-Pugh Nhóm B). Chưa có dữ liệu đối với bệnh nhân suy gan nặng (Child-Pugh Nhóm C).

– Bệnh nhân cao tuổi: nên sử dụng liều khuyến cáo như trên cho bệnh nhân cao tuổi ngoại trừ bệnh nhân suy thận nặng.

– Trẻ em và trẻ vị thành niên (< 18 tuổi): hiệu quả và an toàn của Cubicin chưa được thiết lập.

Chuẩn bị pha thuốc:

Cubicin được cung cấp trong lọ sử dụng một lần chứa 500mg daptomycin dưới dạng bột đông khô vô trùng. Lọ thuốc Cubicin 500mg nên được pha bằng kỹ thuật vô trùng như sau:

Lưu ý: để giảm thiểu hiện tượng tạo bọt, TRÁNH lắc mạnh lọ thuốc trong và sau khi pha.

1. Mở nắp bật bằng polypropylene khỏi lọ thuốc Cubicin để hở phần trung tâm của nắp cao su.

2. Bơm chậm 10 mL dung dịch pha tiêm natri chlorid 0,9% qua phần trung tâm của nắp cao su vào lọ thuốc Cubicin, hướng kim bơm vào thành của lọ thuốc.

3. Đảm bảo toàn bộ thuốc được làm ướt bằng cách xoay nhẹ lọ thuốc.

4. Giữ yên lọ thuốc trong 10 phút.

5. Xoay nhẹ lọ thuốc trong vài phút, khi cần, để có dung dịch thuốc hòa tan hoàn toàn.

Thuốc Cubicin sau khi pha nên được pha loãng thêm bằng dung dịch pha tiêm natri chlorid 0,9% để tiêm truyền tĩnh mạch trong khoảng 30 phút.

Vì thuốc Cubicin không chứa chất bảo quản hoặc chất kìm khuẩn, cần phải tuân thủ kỹ thuật vô trùng khi pha dung dịch thuốc truyền tĩnh mạch. Các nghiên cứu về độ ổn định đã chứng tỏ dung dịch thuốc sau khi pha ổn định trong lọ trong 12 giờ ở nhiệt độ phòng hoặc ổn định đến 48 giờ nếu bảo quản trong điều kiện lạnh ở 2-8oC (36-46oF). Dung dịch thuốc sau khi pha loãng ổn định trong túi dịch truyền trong 12 giờ ở nhiệt độ phòng hoặc 48 giờ khi bảo quản trong điều kiện lạnh. Tổng thời gian bảo quản (trong lọ và túi dịch truyền) ở nhiệt độ phòng không nên vượt quá 12 giờ. Tổng thời gian bảo quản (trong lọ và túi dịch truyền) ở điều kiện lạnh không nên vượt quá 48 giờ.

Lọ thuốc Cubicin chỉ sử dụng một lần.

Thuốc dùng đường tĩnh mạch nên được kiểm tra bằng mắt xem có các phần tử lạ trước khi sử dụng.

Vì các dữ liệu về tính tương hợp của Cubicin với các thuốc sử dụng đường tĩnh mạch khác còn hạn chế, không nên thêm các thuốc khác vào lọ thuốc Cubicin sử dụng một lần hoặc truyền chung đường truyền với Cubicin. Khi sử dụng cùng bộ dây truyền liên tiếp cho nhiều thuốc khác nhau, nên rửa bộ dây truyền bằng dung dịch truyền tương thích trước và sau khi truyền Cubicin.

Tương kỵ

Cubicin không tương thích với các dung dịch pha loãng có chứa dextrose.

Quá liều

Trong trường hợp quá liều, cần tiến hành các biện pháp hỗ trợ. Daptomycin thải trừ chậm khỏi cơ thể qua thẩm phân máu (khoảng 15% liều dùng được thải trừ sau 4 giờ) hoặc qua thẩm phân phúc mạc (khoảng 11% liều dùng được thải trừ sau 48 giờ).

Bảo quản: Bảo quản trong bao bì gốc trong điều kiện lạnh 2-8oC (36-46oF), tránh nhiệt.

Hiện chúng tôi chưa cập nhật được thông tin giá bán thuốc, Nếu bạn đã từng mua và sử dụng xin hãy để lại thông tin trong phần “Bình luận” bên dưới giúp mọi người có thêm tham khảo.

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai.