Follitropin beta

Follitropin beta kích thích buồng trứng có kiểm soát nhằm phát triển nhiều nang noãn trong các chương trình sinh sản trợ giúp như thụ thai trong ống nghiệm/chuyển phôi…

PUREGON
Organon

Bột pha tiêm 50 UI : hộp 1 ống bột đông khô + ống dung môi pha tiêm,
Bột pha tiêm 100 UI : hộp 1 ống bột đông khô + ống dung môi pha tiêm,
Bột pha tiêm 150 UI : hộp 1 ống bột đông khô + ống dung môi pha tiêm
Thành phần

Cho 1 ống: Follitropin bêta (FSH) 50 UI

Cho 1 ống: Follitropin bêta (FSH) 100 UI

Cho 1 ống: Follitropin bêta (FSH) 150 UI

Dược lực

Puregon chứa FSH tái tổ hợp. Thuốc được sản xuất bằng kỹ thuật DNA tái tổ hợp (recombinant DNA technology). Dùng một dòng tế bào buồng trứng chuột Trung Quốc (Chinese hamster) để sản xuất FSH sau khi chuyển nhiễm các đơn vị di truyền FSH của người sang dòng tế bào này. Chuỗi amino acid gốc của FSH tái tổ hợp giống hệt như chuỗi amino acid gốc của FSH tự nhiên ở người. Tuy nhiên vẫn có sự khác nhau rất nhỏ về cấu trúc chuỗi carbohydrate. FSH là hormone không thể thiếu được cho sự tăng trưởng và trưởng thành của nang noãn cũng như sự sản xuất steroid của tuyến sinh dục. Ở nữ, FSH là hormone tối cần thiết để khơi mào và kích thích nang noãn phát triển, trưởng thành đúng thời gian và số lượng cho phép.

Cũng như vậy, Puregon được dùng để kích thích nang noãn phát triển và kích thích sản xuất steroid trong những trường hợp rối loạn chức năng tuyến sinh dục . Hơn nữa, Puregon có thể được dùng trong phác đồ sinh sản trợ giúp để kích thích nhiều nang noãn phát triển (ví dụ: thụ thai trong ống nghiệm/ chuyển phôi (IVF/ET), chuyển giao tử vào vòi trứng (GIFT) và tiêm tinh trùng vào bào tương của trứng (ICSI). Sau khi điều trị bằng Puregon người ta thường dùng hCG để giúp nang noãn trưởng thành hoàn toàn, phân bào giảm nhiễm trở lại và gây rụng trứng.

Dược động học thuốc Follitropin beta

Sau khi tiêm bắp hoặc tiêm dưới da Puregon, nồng độ đỉnh FSH đạt được trong khoảng 12 giờ. Do có sự phóng thích từ từ của thuốc từ vị trí được tiêm và thời gian bán hủy thải trừ khoảng 40 giờ (từ 12 đến 70 giờ), nồng độ FSH sẽ tiếp tục tăng trong 24- 48 giờ. Vì thời gian bán hủy thải trừ tương đối dài nên khi nhắc lại một liều tương tự sẽ làm tăng nồng độ FSH huyết tương cao hơn xấp xỉ gấp 1,5- 2,5 lần so với một liều điều trị duy nhất.

Sự tăng nồng độ FSH huyết tương này giúp cho thuốc có nhiều cơ hội đạt đến nồng độ điều trị có hiệu quả. Không thấy có sự khác biệt có ý nghĩa nào về tính chất dược động học của Puregon giữa tiêm bắp và tiêm dưới da. Tính khả dụng sinh học tuyệt đối của thuốc khi tiêm bắp cũng như tiêm dưới da đều xấp xỉ 77%. Tính chất sinh hóa của FSH tái tổ hợp tương tự như tính chất sinh hóa của FSH thu được từ nước tiểu người, nó cũng được phân bố, chuyển hóa và bài tiết giống như FSH từ nước tiểu người.

Các số liệu an toàn tiền lâm sàng :

Tiêm liều duy nhất Puregon cho chuột không gây tác dụng độc có ý nghĩa. Trong các nghiên cứu dùng liều lặp lại trên chuột (hai tuần) và trên chó (13 tuần) với liều cao gấp 100 lần liều dùng trên người, Puregon cũng không gây tác dụng độc có ý nghĩa. Puregon không có tiềm năng gây đột biến trong test Ames và test sai lạc nhiễm sắc thể in vitro ở tế bào lympho người.

Chỉ định dùng thuốc Follitropin beta

Puregon được chỉ định để điều trị vô sinh nữ trong những trường hợp sau :

– Không rụng trứng (bao gồm cả bệnh buồng trứng đa nang), ở những phụ nữ không đáp ứng điều trị với clomiphene citrate.

– Kích thích buồng trứng có kiểm soát nhằm phát triển nhiều nang noãn trong các chương trình sinh sản trợ giúp như thụ thai trong ống nghiệm/ chuyển phôi (IVF/ET), chuyển giao tử vào vòi trứng (GIFT) và tiêm tinh trùng vào bào tương của trứng (ICSI).

Chống chỉ định

– Các bướu buồng trứng, vú, tử cung, tuyến yên và hạ đồi.

– Có thai hoặc cho con bú.

– Ra máu âm đạo không rõ nguyên nhân.

– Dị ứng với bất kỳ thành phần nào của thuốc.

– Suy buồng trứng nguyên phát.

– Các nang buồng trứng hoặc buồng trứng to bất thường nhưng không liên quan đến bệnh buồng trứng đa nang (PCOD).

– Cơ quan sinh dục dị dạng không thích hợp cho sự có thai.

– U xơ tử cung không thích hợp cho sự có thai.

Đề phòng và thận trọng lúc dùng thuốc Follitropin beta

– Nên loại trừ các bệnh lý nội tiết ngoài sinh dục không kiểm soát được (ví dụ : rối loạn chức năng tuyến yên, tuyến thượng thận, tuyến giáp).

– Nguy cơ đa thai sẽ tăng trong trường hợp có thai sau khi gây rụng trứng bằng các chế phẩm chứa hormone hướng sinh dục.

– Chỉ nên tiêm mũi Puregon đầu tiên dưới sự theo dõi trực tiếp về y tế.

– Tỉ lệ thai ngoài tử cung có thể tăng ở những phụ nữ bị vô sinh đang được điều trị bằng phác đồ sinh sản trợ giúp, đặc biệt đối với thụ thai trong ống nghiệm (IVF) vì những phụ nữ này thường có sự bất thường ở hai vòi trứng. Vì vậy việc tiến hành siêu âm sớm để xác định thai nằm trong tử cung là rất quan trọng.

– Tỷ lệ sẩy thai ở những phụ nữ có thai nhờ kỹ thuật sinh sản trợ giúp cao hơn bình thường.

– Quá kích thích buồng trứng ngoài ý muốn : Trong điều trị vô sinh nữ, nên siêu âm và đo nồng độ estradiol trước khi điều trị và trong thời gian điều trị một cách đều đặn. Ngoài sự phát triển cùng lúc nhiều nang noãn, nồng độ estradiol có thể tăng rất nhanh, ví dụ: nồng độ estradiol tăng cao hơn gấp đôi mỗi ngày trong 2-3 ngày liên tiếp và có thể đạt đến nồng độ quá cao. Có thể dùng siêu âm để chẩn đoán tình trạng quá kích thích buồng trứng. Nếu tình trạng quá kích thích buồng trứng ngoài ý muốn xảy ra (tức là không nằm trong chương trình quá kích thích buồng trứng có kiểm soát trong sinh sản hỗ trợ) nên ngưng sử dụng Puregon. Trong trường hợp này nên tránh thai và không được dùng hCG vì ngoài việc gây rụng nhiều trứng, hội chứng quá kích thích buồng trứng dễ xảy ra.

Các dấu hiệu và triệu chứng lâm sàng của hội chứng quá kích thích buồng trứng nhẹ bao gồm: đau bụng, buồn nôn, tiêu chảy và các nang buồng trứng và hai buồng trứng có độ lớn từ nhẹ tới trung bình. Rất hiếm khi xảy ra hội chứng quá kích thích buồng trứng nặng với dấu hiệu và triệu chứng lâm sàng có thể đe dọa tính mạng bệnh nhân như các nang buồng trứng lớn (có khuynh hướng vỡ), báng bụng, tràn nước màng phổi và tăng cân. Thuyên tắc động mạch do huyết khối hiếm khi đi kèm với điều trị bằng gonadotropin trong đó có Puregon/hCG.

– Phụ nữ có các nguy cơ huyết khối, như tiền sử cá nhân hoặc gia đình mắc bệnh này, béo phì (chỉ số thân khối > 30kg/m2) hoặc bị bệnh ưa huyết khối đã được xác định, có thể sẽ tăng nguy cơ tắc huyết khối tĩnh mạch hoặc động mạch trong thời gian điều trị với gonadotropin, ngay cả khi không có hội chứng quá kích buồng trứng (OHSS). Ở những phụ nữ này, cần cân nhắc những lợi ích điều trị IVF với các nguy cơ. Tuy nhiên, nên lưu ý rằng bản thân thai nghén cũng làm tăng nguy cơ huyết khối.

Lái xe và vận hành máy móc

Chưa thấy có báo cáo nào ghi nhận thuốc có ảnh hưởng lên khả năng lái xe và vận hành máy móc.

Lúc có thai và lúc nuôi con bú

Không được dùng Puregon trong thời kỳ có thai và cho con bú.

Tương tác thuốc Follitropin beta

Dùng kèm Puregon với clomiphene citrate có thể làm tăng đáp ứng của nang noãn. Sau khi khử độ nhạy cảm của tuyến yên bằng một chất chủ vận GnRH, liều Puregon cao hơn có thể cần dùng để đạt được sự đáp ứng đầy đủ của nang noãn.

Tác dụng ngoại ý

Hội chứng quá kích thích buồng trứng ngoài ý muốn xảy ra khoảng 5% đối tượng điều trị với Puregon. Các triệu chứng đặc trưng với hội chứng này đã được mô tả (xem Chú ý đề phòng và Thận trọng lúc dùng). Sử dụng lâm sàng Puregon bằng đường tiêm dưới da hay tiêm bắp có thể dẫn đến phản ứng tại chỗ tiêm như : thâm tím, đau, đỏ, sưng và ngứa, hầu hết các phản ứng này thường nhẹ và thoáng qua. Chưa thấy thuốc gây ra phản ứng toàn thân. Nguy cơ có thai ngoài tử cung và đa thai tăng nhẹ. Hiếm thấy hiện tượng nghẽn mạch huyết khối xảy ra khi kết hợp với các thuốc hướng sinh dục khác. Điều này cũng xảy ra đối với điều trị Puregon/ hCG.

Liều lượng và cách dùng thuốc Follitropin beta

Khởi đầu trị liệu với Puregon trong điều trị vô sinh phải được kiểm soát chặt chẽ của thầy thuốc có kinh nghiệm.

Liều lượng

Ở từng cá nhân và giữa các cá nhân với nhau, có sự khác biệt lớn về sự đáp ứng của buồng trứng đối với Gonadotropin ngoại sinh. Điều này có nghĩa là không thể đồng nhất hóa liều lượng, vì vậy cần điều chỉnh liều lượng thuốc trên mỗi bệnh nhân tùy theo đáp ứng của buồng trứng đối với điều trị. Điều này đòi hỏi sự theo dõi bằng siêu âm và nồng độ oestradiol.

Kết quả các thử nghiệm lâm sàng so sánh Puregon với FSH nước tiểu cho thấy Puregon hữu hiệu hơn FSH nước tiểu: tổng liều sử dụng thấp hơn và thời gian sử dụng thuốc để đạt đến điều kiện tiền phóng noãn ngắn hơn. Do đó, có sự phù hợp khi sử dụng liều Puregon thấp hơn liều FSH nước tiểu thường dùng, không những để tối ưu hóa sự phát triển nang noãn mà còn giảm thiểu nguy cơ quá kích buồng trứng ngoài ý muốn. Puregon có thể sử dụng đơn thuần hoặc phối hợp với thuốc tương đồng GnRH để ngăn ngừa hoàng thể hóa sớm. Trong trường hợp sau, đặc biệt trong các phác đồ phối hợp thuốc chủ vận GnRH, cần phải dùng Puregon với tổng liều điều trị cao hơn để đạt được đáp ứng nang noãn đầy đủ. Kinh nghiệm lâm sàng với Puregon dựa trên ba chu kỳ điều trị trong cả hai chỉ định trên. Kinh nghiệm chung trong IVF cho thấy tỉ lệ điều trị thành công nói chung vẫn ổn định trong 4 chu kỳ đầu và giảm dần sau đó.

Không phóng noãn :

Nói chung nên dùng phác đồ điều trị theo trình tự với liều khởi đầu là tiêm 50 IU Puregon/ ngày. Liều khởi đầu được duy trì trong ít nhất là 7 ngày. Nếu không có đáp ứng buồng trứng, tăng dần liều hằng ngày cho đến khi nang tăng trưởng và/ hoặc nồng độ estradiol huyết tương cho thấy có đáp ứng dược lực học thỏa đáng. Nồng độ estradiol mỗi ngày tăng từ 40 – 100% được xem là tối ưu. Sau đó duy trì liều hằng ngày cho đến khi đạt được điều kiện tiền phóng noãn. Điều kiện này đạt được khi bằng chứng siêu âm cho thấy có một nang vượt trội với đường kính tối tiểu là 18mm và/ hoặc nồng độ estradiol huyết tương đạt 300 – 900 picrogram/mL (1000- 3000 pmol/L). Thông thường, chỉ cần 7- 14 ngày điều trị là đạt được hiệu quả này. Sau đó ngưng dùng Puregon và có thể gây phóng noãn bằng các tiêm gonadotrophin màng đệm người (hCG).

Nếu số nang đáp ứng quá nhiều hoặc nồng độ estradiol tăng quá nhanh, ví dụ nồng độ estradiol hằng ngày tăng hơn gấp đôi trong 2-3 ngày liên tiếp, nên giảm liều dùng hằng ngày. Vì những nang có đường kính trên 14mm có khả năng thụ thai, nên có nhiều nang vượt quá 14mm trong thời điểm tiền phóng noãn sẽ có nguy cơ đa thai. Trong trường hợp đó, nên ngưng dùng hCG và nên tránh thai để đề phòng đa thai.

Quá kích thích buồng trứng có kiểm soát trong các chương trình sinh sản trợ giúp

Một số phác đồ khác nhau được áp dụng. Liều khởi đầu 100- 225 IU được khuyến nghị trong ít nhất 4 ngày đầu. Sau đó, điều chỉnh liều ở từng bệnh nhân dựa trên sự đáp ứng của buồng trứng với điều trị. Các nghiên cứu lâm sàng cho thấy liều duy trì thích hợp từ 75 – 375 IU trong thời gian 6 – 12 ngày hoặc dài hơn nếu cần thiết.

Có thể sử dụng Puregon đơn độc hoặc kết hợp với một chất tương đồng GnRH nhằm ngăn ngừa tình trạng hoàng thể hóa sớm. Trong trường hợp sau, đặc biệt khi sử dụng một chất chủ vận GnRH, có thể cần dùng liều Puregon cao hơn để đạt được sự đáp ứng nang noãn đầy đủ.

Đáp ứng của buồng trứng được theo dõi bằng siêu âm và đo nồng độ estradiol máu. Khi siêu âm thấy có ít nhất 3 nang noãn kích thước 16 – 20 mm và có sự đáp ứng bài tiết estradiol tốt (nồng độ estradiol máu khoảng 300- 400 picrogram/ml (1000- 1300 pmol/l) cho mỗi nang noãn có đường kính trên 18 mm) ta dùng hCG để gây rụng trứng. Thủ thuật lấy nang noãn được tiến hành ở giờ thứ 34- 35 sau khi tiêm hCG.

Cách dùng

Nên tiêm bắp hoặc tiêm dưới da chậm để tránh gây đau cũng như gây rỉ thuốc tiêm ra ngoài từ chỗ tiêm. Nên thay đổi vị trí tiêm dưới da để ngăn ngừa tình trạng teo mô mỡ chỗ tiêm. Phải vứt bỏ phần thuốc còn dư. Trong trường hợp tiêm dưới da, bệnh nhân có thể tự tiêm hoặc nhờ ngưới khác tiêm sau khi đã được bác sĩ hướng dẫn. Bệnh nhân chỉ tự tiêm khi nào họ được khuyến khích, được huấn luyện đầy đủ và được sự đồng ý của bác sĩ.

Quá liều thuốc Follitropin beta

Chưa thấy có trường hợp ngộ độc cấp nào xảy ra cho người khi dùng Puregon. Tuy nhiên, nghiên cứu trên thú vật cho thấy Puregon và các loại hướng sinh dục có nguồn gốc từ nước tiểu gây một tỷ lệ rất nhỏ ngộ độc cấp. Liều FSH quá cao sẽ gây tình trạng quá kích thích buồng trứng (xem phần “Quá kích thích buồng trứng ngoài ý muốn” trong mục Chú ý đề phòng và Thận trọng lúc dùng).
Nguồn: Vidal Việt Nam

Hiện chúng tôi chưa cập nhật được thông tin giá bán thuốc, Nếu bạn đã từng mua và sử dụng xin hãy để lại thông tin trong phần “Bình luận” bên dưới giúp mọi người có thêm thông tin tham khảo.

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai.