Sorafenib

Thuốc gốc Sorafenib

Tham khảo biệt dược NEXAVAR/ Bayer HealthCare Pharmaceuticals

Dạng bào chế và Hàm lượng:

Viên nén bao phim 200mg : hộp 6 vỉ x 10 viên

Dược lực thuốc Sorafenib

Sorafenib là chất ức chế nhiều loại nội bào khác nhau (c-CRAF, BRAF và BRAF đột biến) và các kinase trên bề mặt tế bào (KIT, FLT-3, RET, VEGFR-1, VEGFR-2, VEGFR-3 và PDGFR-â). Một số kinase trong số đó được cho là có liên quan đến tín hiệu của tế bào khối u, hình thành mạch máu và sự chết tế bào theo chu trình. Sorafenib ức chế sự phát triển của tế bào khối u ở biểu mô gan và tế bào thận của người và một số loại ung thư khác của người được ghép dị loại trên chuột bị tổn thương hệ miễn dịch. Sự giảm các mạch máu đến khối u và tăng chết các tế bào khối u theo chu trình được phát hiện thấy ở tế bào biểu mô gan và thận. Bên cạnh đó, người ta cũng nhận thấy có hiện tượng giảm tín hiệu của tế bào khối u trong các trường hợp ung thư biểu mô gan ở người.

Dược động học Thuốc Sorafenib

Sau khi sử dụng thuốc viên sorafenib, sinh khả dụng đạt được vào khoảng 38-49% so với sử dụng dung dịch uống.

Thời gian bán hủy của sorafenib trong khoảng từ 25-48 giờ. Đa liều của sorafenib trong thời gian 7 ngày gây ra sự tích lũy tăng từ 2-7 lần so với đơn liều.

Nồng độ huyết tương ổn định khi sử dụng sorafenib đạt được trong khoảng 7 ngày, với tỉ lệ đỉnh đáy của nồng độ thuốc trung bình nhỏ hơn 2.

Hấp thu và phân bố

Khi sử dụng theo đường uống, sorafenib đạt được nồng độ đỉnh trong huyết tương trong khoảng 3 giờ. Khi sử dụng cùng bữa ăn với lượng mỡ vừa phải, sinh khả dụng tương đương với sử dụng khi đói. Với bữa ăn có lượng mỡ cao, sinh khả dụng của sorafenib giảm đi khoảng 29% so với sử dụng khi đói.

Nồng độ Cmax trung bình và AUC tăng với tỉ lệ ít hơn so với liều dùng dưới 400mg hai lần một ngày.

Trên in vitro, gắn kết của sorafenib với protein trong huyết tương là 99.5%.

Chuyển hóa và thải trừ

Sorafenib được chuyển hóa chủ yếu trong gan thông qua quá trình oxi hóa và được hoạt hóa bởi CYP3A4, cũng như phản ứng liên hợp glucuronic được hoạt hóa bởi UGT1A9.

Sorafenib liên hợp có thể được tách ra trong ống tiêu hóa bởi các hoạt động glucoronic hóa của vi khuẩn, cho phép tái hấp thu thuốc ở dạng không liên hợp. Sử dụng đồng thời với neomycin sẽ làm ảnh hưởng tới quá trình này, làm giảm sinh khả dụng trung bình của sorafenib tới 54%.

Các nghiên cứu về ức chế men trên in vitro

Các nghiên cứu với vi lạp thể của gan ở người cho thấy sorafenib là một chất ức chế cạnh tranh của CYP2C19, CYP2D6 và CYP3A4. Sorafenib có thể làm tăng nồng độ trong máu đối với những thuốc có là cơ chất của những men này.

Sorafenib ức chế phản ứng liên hợp glucoronic thông qua con đường UGT1A1 và UGT1A9. Sự bộc lộ hệ thống đối với cơ chất của UGT1A1 và UGT1A9 có thể tăng lên khi sử dụng đồng thời sorafenib.

Sorafenib ức chế CYP2B6 và CYP2C8 trên in vitro với giá trị Ki tương ứng là 6 và 1-2 mcM. Sự bộc lộ hệ thống đối với cơ chất của CYP2B6 và CYP2C8 có thể tăng lên khi sử dụng đồng thời sorafenib.

Cơ chất CYP2C9

Các nghiên cứu với vi lạp thể của gan ở người cho thấy sorafenib là một ức chế cạnh tranh của CYP2C9 với giá trị Ki 7-8 mcM. Sorafenib có thể tác động tới cơ chất CYP2C9 đã được ghi nhận ở những bệnh nhân sử dụng sorafenib hoặc giả dược kết hợp với warfarin. Những thay đổi chính từ ranh giới PT_INR không cao hơn khi so sánh nhóm bệnh nhân dùng sorafenib và nhóm bệnh nhân dùng giả dược, cho thấy rằng sorafnib có thể không ức chế CYP2C9 trên in vivo.

Dược động học đối với một số nhóm bệnh nhân đặc biệt

Người già (trên 65 tuổi) và giới tính: Các phân tích dựa trên số liệu nhân khẩu học cho thấy không cần thiết điều chỉnh liều dùng đối với yếu tố tuổi tác và giới tính.

Trẻ em: Không có số liệu về dược động học đối với nhóm bệnh nhân nhi khoa.

Suy gan: Sorafenib được đào thải chủ yếu qua gan. Ở những bệnh nhân suy gan nhẹ (Child-Pugh A, N=14) hoặc suy gan vừa (Child-Pugh B, N=8) giá trị tiếp cận trong phạm vi đã được ghi nhận ở những bệnh nhân không suy gan. Dược động học của sorfenib chưa được nghiên cứu trên những bệnh nhân suy gan nặng (Child-Pugh C) ( xem mục Chú ý đề phòng và thận trọng lúc dùng và phần Liều lượng và cách dùng thuốc).

Suy thận: Trong một nghiên cứu dược lý lâm sàng, dược động học của sorafenib được đánh giá dựa trên liều dùng duy nhất là 400mg đối với những đối tượng có chức năng thận bình thường, các đối tượng suy thận nhẹ (CrCl 50-80 mL/phút), suy thận vừa (CrCL 30 đến < 50 ml/phút) hoặc suy thận nặng (CrCL < 30 ml/phút) nhưng không cần phải lọc máu. Không ghi nhận được mối liên hệ giữa việc sử dụng sorafenib và chức năng thận. Không cần thiết phải điều chỉnh liều dùng dựa trên mức độ suy thận nhẹ, vừa hoặc nặng không cần thẩm tách (xem mục Liều lượng và cách dùng).

An toàn tiền lâm sàng

Chất sinh ung thư, chất sinh đột biến, suy giảm khả năng sinh sản

Các số liệu về an toàn tiền lâm sàng của sorafenib đã được đánh giá trên chuột, chó và thỏ.

Các nghiên cứu về liều độc nhắc lại cho thấy những thay đổi từ nhỏ đến vừa (thoái hoá và tái sinh) tại các cơ quan khác nhau trên cơ thể.

Sau khi sử dụng liều dùng nhắc lại đối với chó con và chó đã trưởng thành, các ảnh hưởng đến xương và răng đã được ghi nhận. Những thay đổi bao gồm sự dày lên bất thường ở phần xương đùi khi sử dụng liều dùng sorafenib 600mg/m2 bề mặt cơ thể (tương đương với 1,2 lần liều khuyên dùng trên lâm sàng là 500mg/m2 bề mặt cơ thể), giảm tế bào trong tủy xương dẫn đến thay đổi sự trưởng thành của tiểu cầu với liều dùng là 200mg/m2/ngày, sự thay đổi của thành phần men răng cũng xảy ra ở liều dùng 600mg/m2/ngày. Tuy nhiên không thấy có ảnh hưởng đối với chó trưởng thành.

Phản ứng gây đột biến gien dương tính được ghi nhận đối với sorafenib trong một thử nghiệm với tế bào trên in vitro của động vật có vú (buồng trứng của chuột đồng Trung Quốc) để tìm ra thực bào gây đột biến (nhiễm sắc thể bất thường) được biểu hiện qua sự chuyển hóa phóng xạ. Trong một thử nghiệm với tế bào vi khuẩn trên in vitro (thử nghiệm Ames), một hoạt chất cuối cùng của thuốc (< 0,15%) xuất hiện trong giai đoạn trung gian có phản ứng dương tính với đột biến gien. Sorafenib không phải là chất sinh đột biến trong thử nghiệm Ames (các nguyên liệu khác có chứa trong khâu trung gian là 0,34%) và trong một thử nghiệm vi nhân trên in vivo ở chuột.

Nghiên cứu về khả năng gây ung thư không được tiến hành với sorafenib.

Không có nghiên cứu cụ thể với sorafenib được tiến hành trên động vật để đánh giá các ảnh hưởng tới khả năng sinh sản. Tuy nhiên cũng có thể xảy ra một số ảnh hưởng có hại tới khả năng sinh sản của giống đực và giống cái bởi vì nghiên cứu sử dụng liều dùng nhắc lại trên động vật đã cho thấy sự thay đổi tại cơ quan sinh sản của giống đực và giống cái.

Khi sử dụng thuốc trên chuột và thỏ, Sorafenib cho thấy không gây ra nhiễm độc thai và quái thai. Những ảnh hưởng được ghi nhận bao gồm sự suy giảm về khả năng sinh sản và cân nặng của phôi thai, tăng số lượng phôi thai không phát triển được và tăng số lượng dị hình ngoại hình cũng như trong nội tạng. Ảnh hưởng có hại đối với phôi thai cũng đã được ghi nhận khi sử dụng liều dùng uống là 6mg/m2/ngày ở chuột và 36mg/m2/ngày ở thỏ (xem phần Chú ý đề phòng và thận trọng lúc dùng đối với phụ nữ có thai và cho con bú).

Chỉ định dùng thuốc Sorafenib

– Điều trị bệnh nhân ung thư tế bào biểu mô thận tiến triển.

– Điều trị bệnh nhân ung thư tế bào biểu mô gan.

Chống chỉ định

Không dùng Nexavar® cho những bệnh nhân quá mẫn với sorafenib hoặc bất kỳ thành phần nào của thuốc.

Chú ý đề phòng và thận trọng lúc dùng

Có thai

Phụ nữ tránh có thai trong khi điều trị với sorafenib.

Phụ nữ trong độ tuồi sinh đẻ cần phải được thông báo cho biết về khả năng có hại của sorafenib với bào thai, bao gồm dị dạng thai nhi (sinh quái thai), làm chậm phát triển và gây thai chết lưu (gây độc cho phôi thai).

Không sử dụng sorafenib khi đang có thai. Sự kê đơn cần phải cân nhắc nếu lợi ích mang lại nhiều hơn nguy cơ đối với thai nhi.

Ngừng cho con bú khi điều trị với sorafenib.

(Xem phần Lúc có thai và lúc nuôi con bú và phần An toàn tiền lâm sàng)

Nhiễm độc trên da: phản ứng trên da tay và chân (chứng đỏ da lòng bàn tay-bàn chân) và phát ban, những triệu chứng này chính là những phản ứng phụ thông thường nhất của sorafenib. Phát ban và những phản ứng trên da tay và chân thường là ở mức CTC độ 1 và 2 tiêu chuẩn nhiễm độc thông thường của viện Ung thư Quốc gia) và nhìn chung thường xuất hiện trong 6 tuần đầu điều trị sorafenib.

Xử lý nhiễm độc trên da có thể sử dụng các biện pháp cục bộ nhằm làm giảm triệu chứng, tạm thời ngưng điều trị và/hoặc thay đổi liều dùng sorafenib, hoặc đối với những trường hợp nặng hoặc kéo dài dai dẳng, nên chấm dứt sử dụng sorafenib (xem mục Tác dụng ngoại ý).

Tăng huyết áp: Gia tăng tỷ lệ tăng huyết áp đã được ghi nhận ở những bệnh nhân sử dụng sorafenib. Tăng huyết áp có thể ở mức độ nhẹ và vừa, xuất hiện sớm ở giai đoạn đầu điều trị và dễ dàng xử lý bằng liệu pháp chống tăng huyết áp tiêu chuẩn. Trường hợp cần thiết cần theo dõi và điều trị huyết áp thường xuyên với chế độ sử dụng thuốc thích hợp. Trong các trường hợp cao huyết áp nặng hoặc kéo dài dai dẳng nên chấm dứt sử dụng sorafenib (xem mục Tác dụng ngoại ý).

Xuất huyết: Tăng nguy cơ chảy máu có thể xuất hiện trong quá trình điều trị với sorafenib. Sự xuất hiện chảy máu trầm trọng thường hiếm xảy ra. Nên chấm dứt sử dụng serofenib (xem mục Tác dụng ngoại ý) đối với bất kỳ trường hợp chảy máu nào phải can thiệp bằng các biện pháp y tế.

Warfarin: Chảy máu bất thường hoặc gia tăng tỉ lệ theo chuẩn quốc tế (INR) đã được báo cáo ở một số bệnh nhân sử dụng warfarin đồng thời với sorafebin. Nên theo dõi chặt chẽ những bệnh nhân này để xác định sự biến đổi thời gian prothrombin, INR và hiện tượng chảy máu lâm sàng (xem mục Tác dụng ngoại ý).

Những biến chứng trong giai đoạn lành vết thương: Chưa có nghiên cứu chính thức được tiến hành về tác dụng của sorafenib trong thời gian lành vết thương. Ở những bệnh nhân đang trong giai đoạn phẫu thuật, nên tạm thời ngừng sử dụng sorafenib vì những lý do cẩn trọng. Những kinh nghiệm lâm sàng về sử dụng lại liệu pháp điều trị này sau thời gian phẫu thuật còn hết sức hạn chế. Do đó, khi quyết định sử dụng lại sorafenib sau khi tiến hành phẫu thuật cần dựa trên những đánh giá lâm sàng phù hợp với giai đoạn lành vết thương.

Chứng thiếu máu cục bộ ở tim và/hoặc nhồi máu cơ tim: Trong nghiên cứu 11213, tỷ lệ chứng thiếu máu cục bộ ở tim và/hoặc nhồi máu cơ tim cần điều trị khẩn cấp ở nhóm điều trị với sorafenib (2.9%) cao hơn so với nhóm điều trị giả dược (0.4%). Trong nghiên cứu 100554, tỷ lệ chứng chứng thiếu máu cục bộ ở tim và/hoặc nhồi máu cơ tim cần điều trị khẩn cấp ở nhóm điều trị với sorafenib (2.7%) cao hơn so với nhóm điều trị giả dược (1,3%). Những bệnh nhân mắc chứng động mạch vành không ổn định hoặc bị nhồi máu cơ tim trong thời gian gần không được tham gia trong những nghiên cứu trên.

Nên cân nhắc ngừng sử dụng tạm thời hoặc vĩnh viễn sorafenib đối với những bệnh nhân tiếp tục mắc chứng thiếu máu cục bộ ở tim và/hoặc nhồi máu cơ tim (xem mục Tác dụng ngoại ý, Dược động học-hiệu quả lâm sàng).

Thủng dạ dày: Thủng dạ dày là hiện tượng hiếm khi xảy ra và theo báo cáo chỉ xuất hiện với tỉ lệ ít hơn 1% bệnh nhân sử dụng sorafenib. Trong một vài trường hợp hiện tượng này không liên quan đến việc xuất hiện khối u trong ổ bụng. Có thể ngưng sử dụng liệu pháp sorafenib (xem mục Tác dụng ngoại ý).

Suy gan: Không có số liệu đối với các bệnh nhân suy gan nặng Child-Pugh C. Vì sorafenib chủ yếu đào thải qua gan, sự tiếp xúc có thể tăng lên ở những bệnh nhân suy gan nặng (xem mục Dược động học).

Tác dụng trên khả năng lái xe và vận hành máy móc

Không có bằng chứng cho thấy sorafenib có ảnh hưởng đến khả năng lái xe và vận hành máy móc.

Lúc có thai và lúc nuôi con bú

Phụ nữ có thai:

Chưa có những nghiên cứu thích hợp và có kiểm soát về việc sử dụng sorafenib với phụ nữ có thai. Những nghiên cứu trên động vật cho thấy có nguy cơ nhiễm độc đối với khả năng sinh sản bao gồm sinh quái thai. Ở chuột, sorafenib và các chất chuyển hóa của nó đã được chúng minh là đi qua nhau thai tham gia vào quá trình ức chế hình thành mạch máu của phôi thai.

Nên tránh có thai trong thời gian điều trị sorafenib. Phụ nữ trong độ tuổi sinh sản cần được thông báo về rủi ro đối với phôi thai, bao gồm khả năng dị dạng phôi thai (quái thai), thai kém phát triển và có thể thai chết lưu (nhiễm độc phôi thai).

Không sử dung sorafenib trong thời gian mang thai. Bác sĩ kê đơn cũng nên cân nhắc thận trọng khi sử dụng thuốc, nếu lợi ích của việc dùng thuốc thích đáng cho những nguy cơ có thể xảy ra đối với thai nhi (xem mục An toàn tiền lâm sàng).

Phụ nữ trong độ tuổi sinh đẻ:

Ở động vật, sorafenib cho thấy nguy cơ gây quái thai và nhiễm độc phôi thai. Nên sử dụng biện pháp tránh thai hợp lý trong thời gian sử dụng thuốc và 2 tuần tiếp theo sau khi ngừng thuốc (xem mục An toàn tiền lâm sàng).

Cho con bú:

Hiện chưa rõ sorafenib có bài tiết vào sữa mẹ hay không. Đối với động vật, sorafenib và/hoặc chuyển hóa của nó bài tiết vào sữa. Do có nhiều loại thuốc bài tiết vào sữa mẹ ở người và do ảnh hưởng của sorafenib đối với nhũ nhi chưa được xác định rõ ràng, phụ nữ nên ngừng cho con bú trong thời gian sử dụng sorafenib.

Khả năng sinh sản:

Kết quả từ những nghiên cứu trên động vật cho thấy sorafenib có thể làm suy yếu khả năng sinh sản của cả giống đực và giống cái (xem mục An toàn tiền lâm sàng).

Tương tác thuốc

Con đường UGT 1A1: Cần thận trọng khi sử dụng sorafenib kết hợp với các tổ hợp chuyển hóa/thải trừ chủ yếu qua con đường UGT1A1 (ví dụ irinotecan).

Docetaxel: Sử dụng đồng thời docetaxel (75 hoặc 100mg/m2) và sorafenib (200 hoặc 400mg 2 lần/ngày), sử dụng liều dùng thông thường của docetaxel với 3 ngày ngừng uống thuốc, cho thấy kết quả là AUC (diện tích đường cong dưới nồng độ) của docetaxel tăng từ 36-80%. Cần thận trọng khi sử dụng đồng thời sorafenib và docetaxel.

Sự cảm ứng CYP3A4: Sử dụng liên tục đồng thời sorafenib và rifampicin có thể gây giảm trung bình 37% diện tích dưới đường cong của sorafenib. Các chất cảm ứng hoạt động của CYP3A4 khác (ví dụ: Hypericum perforatum cũng được biết như St.John wort, phenytoin, carbamazepine, phenobarbital và dexamethasone) cũng có thể làm tăng chuyển hóa của sorafenib và do đó làm giảm nồng độ sorafenib.

Sự ức chế CYP3A4: Ketoconazole, một ức chế khá mạnh của CYP3A4, được dùng mỗi ngày một lần trong 7 ngày cho các tình nguyện nam khỏe mạnh không làm thay đổi diện tích dưới đường cong AUC của một liều đơn 50mg sorafenib duy nhất. Do đó, dường như không có các tương tác dược lý lâm sàng của sorafenib và chất ức chế CYP3A4.

Các cơ chất CYP2C9: Tác dụng của sorafenib tới warafin, một cơ chất CYP2C9, đã được đánh giá trên các bệnh nhân điều trị với sorafenib khi so sánh với nhóm dùng giả dược. Điều trị đồng thời sorafenib và warfarin không làm thay đổi nồng độ PT-INR khi so sánh với dùng giả dược. Tuy nhiên bệnh nhân khi sử dụng warfarin phải kiểm tra INR đều đặn (xem mục Chú ý đề phòng và thận trọng lúc dùng).

Cơ chất đồng phân chọn lọc của CYP: sorafenib không phải là chất ức chế cũng như không phải là chất cảm ứng của các enzyme cytochrome P450.

Kết hợp với các chế phẩm chống ung thư: Trong các nghiên cứu lâm sàng, sorafenib được sử dụng đồng thời với các chế phẩm chống hình thành khối u khác nhau với liều dùng và cơ chế thông thường bao gồm: gemcitabine, oxaliplatin, doxorubicin và irinotecan.

Điều trị đồng thời với sorafenib làm tăng lên khoảng 21% chỉ số diện tích dưới đường cong AUC của doxorubicin. Khi sử dụng với irinotecan, chất hoạt hóa chuyển hóa của nó là SN38 được chuyển hóa bởi con đường UGT1A1 làm tăng AUC của SN-38 từ 67-120% và tăng 26-42% diện tích dưới đường cong AUC của irinotecan. Ý nghĩa lâm sàng của những phát hiện này hiện chưa rõ ràng (xem mục Chú ý đề phòng và thận trọng lúc dùng).

Docetaxel (75 hoặc 100mg/m2 sử dụng 1 lần trong mỗi 21 ngày) khi sử dụng đồng thời với sorafenib (200mg ngày 2 lần hoặc 400mg ngày 2 lần sử dụng từ ngày thứ 2 đến ngày thứ 19 của chu kỳ 21 ngày), sau đó ngưng dùng thuốc trong 3 ngày, kết quả là chỉ số diện tích dưới đường cong AUC của docetaxel tăng từ 36-80% và nồng độ tối đa Cmax của docetaxel tăng từ 16-32%. Cần thận trọng khi sử dụng đồng thời sorafenib và docetaxel (xem mục Chú ý đề phòng và thận trọng lúc dùng).
Neomycin: Sử dụng đồng thời với neomycin, một tác nhân diệt khuẩn không hệ thống, được sử dụng để tiệt khuẩn tại đường tiêu hóa, sẽ làm ảnh hưởng tới vòng tái hấp thu gan ruột của sorafenib (xem phần dược lý lâm sàng, chuyển hóa và thải trừ), dẫn đến làm giảm hấp thu sorafenib. Trên những người tình nguyện khỏe mạnh với phác đồ điều trị có 5 ngày sử dụng neomycin làm giảm sinh khả dụng trung bình của sorafenib tới 54%. Sự khác biệt về lâm sàng của những kết quả này vẫn chưa rõ. Ảnh hưởng của các kháng sinh khác vẫn chưa được nghiên cứu, nhưng chắc chắn phụ thuộc vào khả năng của chúng với việc làm giảm hoạt động glucoronidase.

Tác dụng ngoại ý

Dưới nhóm A: trình bày nhóm US-PI của các tác dụng không mong muốn:

Các số liệu trong phần này phản ánh việc sử dụng NEXAVAR ở 748 bệnh nhân những người đã tham gia vào nghiên cứu có kiểm chứng với giả dược đối với ung thư tế bào biểu mô gan (n=297) hoặc ung thư tế bào biểu mô thận tiến triển (n=451).
Tác dụng phụ thông thường nhất (≥ 20%) có liên quan đến sử dụng NEXAVAR ở các bệnh nhân ung thư tế bào biểu mô gan hoặc ung thư tế bào biểu mô thận tiến triển là mệt mỏi, giảm cân, phát ban/bong da, phản ứng trên da tay và chân, rụng tóc, tiêu chảy, biếng ăn, buồn nôn và đau bụng dưới.

Do thử nghiệm lâm sàng được tiến hành trong các điều kiện khác nhau, tỉ lệ của các phản ứng có hại ghi nhận qua các thử nghiệm lâm sàng của thuốc không thể so sánh trực tiếp với tỉ lệ của các thử nghiệm lâm sàng ở các thuốc khác và do đó không thể hiện được tỉ lệ phản ứng được ghi nhận trên thực tế.

Các phản ứng có hại đối với ung thư tế bào biểu mô gan (HCC) trong nghiên cứu 100554 Bảng 1a cho thấy tỉ lệ các bệnh nhân ung thư tế bào biểu mô gan đã xuất hiện các phản ứng phụ được báo cáo từ ít nhất 10% bệnh nhân và tại một tỉ lệ cao hơn ở nhóm sử dụng NEXAVAR so với nhóm dùng giả dược trong nghiên cứu 100554. Phản ứng phụ CTCAE mức độ 3 đã được báo cáo ở 39% bệnh nhân sử dụng NEXAVAR so với 24% bệnh nhân dùng giả dược. Phản ứng phụ CTCAE mức độ 4 đã được báo cáo ở 6% bệnh nhân sử dụng NEXAVAR so với 8% bệnh nhân dùng giả dược.

Liều lượng và cách dùng

Liều khuyên dùng: Liều khuyên dùng hàng ngày của sorafenib là 400mg (2 viên x 200mg) uống 2 lần một ngày, có thể uống không kèm thức ăn hoặc uống cùng bữa ăn có tỉ lệ mỡ thấp hoặc vừa.

Cách dùng: Thuốc viên dùng theo đường uống. Nuốt viên thuốc kèm theo một ít nước.

Thời gian điều trị: Cần điều trị liên tục cho đến khi bệnh nhân không thể nhận được những lợi ích lâm sàng từ liệu pháp này hoặc cho đến khi xuất hiện các triệu chứng nhiễm độc không thể chấp nhận được.

Dò liều, chỉnh liều, những khuyên dùng đặc biệt: Khi nghi ngờ xảy ra phản ứng có hại của thuốc có thể cần dừng thuốc tạm thời hoặc giảm liều dùng của sorafenib. Trong trường hợp cần thiết phải giảm liều dùng, liều sorafenib nên giảm xuống 2 viên 200mg uống ngày 1 lần (xem mục Chú ý đề phòng và thận trọng lúc dùng).

Sự thay đổi của liều khuyên dùng đối với hiện tượng nhiễm độc trên da được thể hiện tại bảng 0.

Bảng 0: Sự thay đổi của liều khuyên dùng đối với hiện tượng nhiễm độc trên da

Mức độ Xuất hiện Thay đổi liều dùng sorafenib

Mức độ 1 Bất cứ lúc nào Ngay lập tức triển khai các biện pháp điều trị hỗ trợ và duy trì điều trị với sorafenib.

Mức độ 2 Lần đầu Ngay lập tức triển khai các biện pháp điều trị hỗ trợ và cân nhắc giảm liều điều trị với sorafenib xuống 400mg/ngày trong 28 ngày. * Nếu tình trạng nhiễm độc trở lại mức độ 0-1 sau khi giảm liều, tăng liều điều trị theo mức liều dùng thông thường sau 28 ngày. Nếu tình trạng nhiễm độc không trở lại mức độ 0-1 mặc dù đã giảm liều, ngưng dùng sorafenib trong thời gian 7 ngày cho đến khi mức độ nhiễm độc trở lại mức 0-1. * Khi trở lại điều trị sau khi ngưng dùng thuốc, duy trì liều điều trị sorafenib 400mg/ngày trong 28 ngày. * Nếu mức độ nhiễm độc duy trì ở mức độ 0-1 khi giảm liều dùng, tăng liều sorafenib tới mức thông thường sau 28 ngày.

Lần 2 hoặc 3 Cũng như khi xuất hiện lần đầu, phụ thuộc vào liều điều trị Sorafenib khi sử dụng lại, liều dùng nên giảm xuống mức tuyệt đối là 400mg/ngày.

Lần 4 Cần quyết định ngưng điều trị sorafenib dựa trên đánh giá lâm sàng và tình trạng bệnh nhân.

Mức độ 3 Lần đầu Sử dụng biện pháp điều trị hỗ trợ và ngay lập tức ngưng dùng Sorafenib trong thời gian ít nhất 7 ngày cho đến khi mức độ nhiễm độc xuống còn mức độ 0-1. * Khi điều trị lại sorafenib sau thời gian ngưng dùng thuốc, liều dùng nên giảm xuống 400mg/ ngày trong thời gian 28 ngày. * Nếu mức độ nhiễm độc duy trì ở mức độ 0-1 khi sử dụng liều dùng giảm xuống, có thể tăng liều dùng Sorafenib đến mức thông thường sau 28 ngày.

Lần 2 Cũng như khi xuất hiện lần đầu, phụ thuộc vào liều điều trị Sorafenib khi sử dụng lại, liều dùng nên giảm xuống mức tuyệt đối là 400mg/ngày.

Lần 3 Cần quyết định ngưng điều trị sorafenib dựa trên đánh giá lâm sàng và tình trạng bệnh nhân

Nhóm bệnh nhân đặc biệt:

Trẻ em: Không có số liệu về an toàn và hiệu quả của sorafenib đối với nhóm bệnh nhân nhi.

Người già (trên 65 tuổi), giới tính và cân nặng: Không cần thiết điều chỉnh liều dùng đối với yếu tố tuổi tác (trên 65 tuổi), giới tính hoặc cân nặng.

Suy gan: Không cần thiết điều chỉnh liều dùng với bệnh nhân suy gan ở mức độ Child-Pugh A và B. Chưa có nghiên cứu về sử dụng sorafenib ở những bệnh nhân suy gan Child-Pugh C (Xem mục Dược động học – Nhóm bệnh nhân đặc biệt – Suy gan).

Suy thận: Không cần thiết điều chỉnh liều dùng đối với những bệnh nhân suy thận nhẹ, vừa, nặng không yêu cầu phải thẩm tách với các trường hợp vừa và nặng. Chưa có nghiên cứu về sử dụng sorafenib ở những bệnh nhân suy thận đang sử dụng chế độ thẩm tách (Xem mục Dược động học – Nhóm bệnh nhân đặc biệt – Suy thận).

Yêu cầu theo dõi sát cân bằng nước và điện giải ở những bệnh nhân có nguy cơ rối loạn chức năng thận.

Quá liều thuốc Sorafenib

Không có điều trị chống độc đặc hiệu cho bệnh nhân sử dụng quá liều sorafenib.

Liều dùng cao nhất của sorafenib trong nghiên cứu lâm sàng là 800mg 2 lần/ngày. Các phản ứng phụ được ghi nhận khi sử dụng liều dùng này là tiêu chảy và một số phản ứng da liễu.

Trong trường hợp nghi ngờ quá liều, nên ngừng sử dụng sorafenib và tiến hành một số biện pháp hỗ trợ.

Bảo quản thuốc Sorafenib

Bảo quản tại nhiệt độ phòng, dưới 30oC.

Hiện chúng tôi chưa cập nhật được thông tin giá bán thuốc, Nếu bạn đã từng mua và sử dụng xin hãy để lại thông tin trong phần “Bình luận” bên dưới giúp mọi người có thêm thông tin tham khảo.

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai.