Vitamin E là gì?

Các thực phẩm thực vật giàu vitamin E là: đậu xanh tươi 3 – 6mg%, đậu khô 5 – 6mg%, cà rôt 1,5mg%, salade 3mg%, ngô hạt 10mg%, mầm ngô 15 – 25mg%, lúa mì 6,5 – 7,5mg%, đậu phộng 9mg%.

Vitamin E là tên gọi chung để chỉ hai lớp các phân tử (bao gồm các tocopherol và các tocotrienol) có tính hoạt động vitamin E trong dinh dưỡng. Vitamin E không phải là tên gọi cho một chất hóa học cụ thể, mà chính xác hơn là cho bất kỳ chất nào có trong tự nhiên mà có tính năng vitamin E trong dinh dưỡng. Chức năng chính của α-tocopherol trong cơ thể người dường như là của một chất chống ôxi hóa. Nhiều phân tử được đề cập trong các bài chính về chúng như nói trên đây có thể chuyển hóa lẫn nhau trong cơ thể.

Các tocopherol
Các tocopherol

Các tocopherol Trong số các thực phẩm nguồn gốc động vật, sữa bò chứa 0,1 – 0,2mg%, trứng gà 1 – 3mg%, lòng đỏ 3,5mg%, thịt bò 2mg%, lợn 0,6mg%, cá mè 1,5mg%. Sữa mẹ chứa 0,05% vitamin E.

Ở dạng tinh khiết, tocopherol có dạng dầu nhờn, màu vàng sáng không tan trong nước và phần lớn các dung môi hữu cơ, bền vững với acid và kiềm khi đun nóng tới 40oC, chịu nhiệt tốt. Các tia tử ngoại có thể phá hủy vitamin E.

Trong các tocopherol, α-tocopherol là chất hoạt động nhất. Nó là đại biểu chính của vitamin E vì chiếm 90% tất cả tocopherol trong máu và tổ chức. Tác dụng chủ yếu của vitamin E trong cơ thể là:

Vitamin E

Tác dụng chống oxy hoá. Vitamin E là chất chống oxy hoá mạnh, có thể bảo vệ cho tế bào tránh khỏi các nguy hại do các gốc tự do gây nên, ức chế sự oxy hoá của chất dạng mỡ trên màng tế bào và trong tế bào, ngoài ra có thể phản ứng với peroxyde làm cho chúng chuyển hoá thành các chất không gây độc hại đối với tế bào. Vitamin E có tác dụng phòng ngừa sự oxy hoá của vitamin A, vitamin C, để đảm bảo chức năng dinh dưỡng của chúng trong cơ thể.

Duy trì tính hoàn chỉnh của hồng cầu. Hàm lượng viatmin E trong thức ăn thấp sẽ dẫn đến lượng hồng cầu giảm và rút ngắn thời gian sinh tồn của hồng cầu.

Điều tiết sự tổng hợp nên một số chất trong cơ thể. Vitamin E bằng sự điều tiết các bazơ pyridine mà tham dự vào các quá trình tổng hợp sinh học của DNA. Vitamin E là nhân tố để phụ trợ tổng hợp nên vitamin C và coenzyme Q, đồng thời có khả năng liên quan đến sự tổng hợp nên hemoglobin.

Vitamin E có thể ức chế sự oxy hoá các chất không phải là hemoglobin như protein sắt, bảo vệ gốc SH trong dehydrogenase không bị oxy hoá hoặc không xảy ra phản ứng hoá học với các ion kim loại nặng mà mất tác dụng. Vitamin E cũng có khả năng tạo thành và phát triển của tinh trùng. Tocopherol không tự tổng hợp trong cơ thể. Sau khi vào cơ thể theo thức ăn, vitamin E tích lũy ở các tổ chức, chủ yếu ở mỡ 10 – 50mg%, gan 1,3 – 2,5mg%, cơ 1,2 – 1,6mg%. Thiếu vitamin E xảy ra khi rối loạn hấp thu lipid. Thiếu vitamin E thường xảy ra tình trạng teo cơ, các biến đổi sâu sắc ở đại não và ở tủy.

Nhu cầu vitamin E đối với trẻ em 0,5mg/kg cân nặng, ở người trưởng thành 20 – 30mg/ngày, nhu cầu cao hơn đối với phụ nữ có thai và cho con bú. Tuy nhiên nhu cầu về vitamin E chưa được xác định chắc chắn mà chỉ gần đúng dựa vào hàm lượng của nó trong khẩu phần, mức độ hấp thu lipid, sự tích lũy trong các mô và sự bài xuất.

Do hoạt tính sinh học của các đồng phân (isomer) của vitamin E trong cơ thể khác nhau, vì vậy khi tính toán lượng vitamin E đưa vào, nên dựa vào tỷ lệ tương đương với lượng α- tocopherol:

Đương lượng vitamin E = (1 x α-tocopherol mg) + (0,5 x β-tocopherol mg) + (0,1 x γ- tocopherol mg) + (0,3 x α-tocopheroltriene mg).